Văn bản pháp quy
   Các đơn vị thuộc phòng
   Các đơn vị trực thuộc sở
   Nhịp sống học đường
   Chuyên môn
   Thư viện điện tử
   Nghiên cứu khoa học
   Hoạt động đoàn thể
   Nhịp cầu giáo dục
   CLB nhà giáo nghỉ hưu
   Liên kết website
Chọn liên kết

Chuyên môn  Trung học cơ sở
Đăng ngày : 12/1/2011 5:28:24 PM
Có file đính kèm : Bấm đây để tải về
Chương trình ngoại khoá văn học của trường THCS Anh Sơn
( Giáo dục Anh Sơn) Mỗi môn học có một sứ mệnh riêng của nó. Đi sâu vào đời sống tình cảm của con người, làm thế giới tình cảm phong phú hơn, khiến cho các cung bậc tình cảm trong trái tim mỗi con người rung lên là sứ mệnh của văn chương. Văn chương làm cho tâm hồn chúng ta sâu sắc hơn, nhạy cảm hơn, tinh tế hơn... Nói như vậy không phải là phủ nhận vai trò của các môn học khác mà muốn nói một điều rằng: Nếu học tốt môn văn học thì bạn đã có một trợ thủ đắc lực khi nói, viết và giao tiếp. Giáo dục Anh Sơn xin trân trọng giới thiệu nội dung chính của chương trình câu lạc bộ văn học thời Lý – Trần do tổ Ngữ Văn trường THCS Anh Sơn thực hiện vào ngày 15/11/2011, do khuôn khổ trang thông tin điện tử nên chúng tôi chỉ đưa các bài viết của giáo viên và học sinh.
        LỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH CỦA TỔ NGỮ VĂN
 
                                       Nguyễn Thị Bắc – Tổ trưởng tổ Khoa học – Xã hội
                                            trường THCS Anh Sơn phát biểu khai mạc


Kính thưa quí vị đại biểu!
Kính thưa các thầy giáo, cô giáo!
Thưa toàn thể các em học sinh!
Có một nhà phê bình văn học đã viết: 
        “ Phải tốn đến ngàn cân quặng chữ
           Mới thu về một chữ mà thôi
           Những chữ ấy làm cho rung động
           Triệu con tim trong hàng triệu năm dài.” 

                           Quang cảnh giáo viên và học sinh tham gia chương trình ngoại khóa

 Văn học là thế. Mỗi câu, mỗi chữ viết ra là gợi lên trước mắt người đọc hiện thực cuộc sống muôn màu muôn sắc, làm rung cảm mãnh liệt tâm hồn con người qua nhiều thời đại.Thực tế đã chứng minh rằng : Từ xưa tới nay, văn chương được xác lập vị trí hết sức quan trọng trong đạo học cũng như trong hành đạo. Trong xã hội phong kiến thời xưa, văn chương còn chiếm ngôi vị độc tôn, đó là môn thi duy nhất để các sĩ tử  thể hiện kiến thức, tài năng xử thế và góp phần khẳng định mình trong các khoa thi với giải Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa danh giá. Và đó cũng là cơ sở để nhà vua chọn người hiền tài phò vua, trị nước, giúp đời . Đã có rất nhiều người thành đạt trên con đường văn chương khoa cử như đại thi hào Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Lê Quí Đôn............Và chúng ta cũng tự hào khi có những nhà thơ, nhà văn đồng thời là những vị tướng cầm quân xông pha trận mạc lừng danh:  Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Công Trứ...
 
                                                         Chương trình Văn nghệ chào mừng   
Trong xã hội ngày nay, việc học văn càng có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết. Bởi Văn chương giúp đời sống tinh thần con người thêm phong phú hơn, giúp cách ứng xử của ta được văn hoá hơn. Văn chương là một phần không thể thiếu trong cuộc sống mỗi con người. Đến với văn chương, tìm hiểu về văn chương, ta sẽ có thêm nhiều hiểu biết về quê hương, đất nước, xã hội và con người; để chúng ta thêm tự hào về mảnh đất thân yêu của chúng ta; và được sống những giây phút hào hùng về truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước của ông cha; để chúng ta thêm yêu quý, trân trọng giá trị nhân văn cao cả của dân tộc mình... Văn chương còn làm cho thế giới ngôn ngữ của mỗi con người thêm phong phú, trong sáng hơn. Văn chương trau dồi lời ăn, tiếng nói của mỗi con người trong cuộc sống thêm đẹp và ý nhị hơn.
     Mỗi môn học, mỗi lĩnh vực đều có một sứ mệnh riêng của mình. Đi sâu vào đời sống tình cảm của con người, làm thế giới tình cảm phong phú hơn, khiến cho các cung bậc tình cảm trong trái tim mỗi con người rung lên là sứ mệnh của văn chương. Văn chương làm cho tâm hồn chúng ta sâu sắc hơn, nhạy cảm hơn, tinh tế hơn. Cuộc giao tiếp của bạn chắc chắn sẽ thành công hơn, hấp dẫn hơn khi bạn có vốn hiểu biết về văn chương, hiểu biết về vốn từ phong phú. Thiếu văn chương thì đời sống sẽ tẻ nhạt, lạnh lẽo biết bao nhiêu và cuộc sống của con người ta chẳng khác gì sa mạc.  Nói như vậy không phải là phủ nhận vai trò của các môn học khác mà muốn nói một điều rằng : Nếu học tốt môn văn học thì bạn đã có một trợ thủ đắc lực khi nói, viết và giao tiếp.
 
                              Thầy giáo Trần Văn Thanh – Hiệu trưởng tặng quà cho đội văn nghệ    
Có những minh chứng hùng hồn cho thấy vai trò to lớn của văn chương: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết “ Ngâm thơ ta vốn không ham” nhưng mỗi chữ, mỗi câu, mỗi bài Người viết ra có sức lay đông đến triệu triệu trái tim người đọc trong nước và trên thế giới; Để rồi với trí tuệ sáng suốt, trái tim nhân hậu, vốn hiểu biết văn chương phong phú Người đã trở thành vị lãnh tụ thiên tài, người anh hùng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của nhân loại. Hay như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà chính trị, nhà ngoại giao lỗi lạc luôn quan tâm đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt để gìn giữ cốt cách, tâm hồn dân tộc, góp phần làm cho đời sống thêm văn hoá, văn minh hơn. Thế mới thấy học văn là điều cần thiết của mỗi con người. Khi ta yêu văn chương là ta đang sống bằng cả trái tim mình với những chuẩn mực đạo đức nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Ta sẽ là con người hoàn thiện hơn nếu ta biết tìm đến với văn chương.
      Nhưng một điều làm ta trăn trở là bước sang những năm đầu của thế kỉ 21, vai trò của môn văn học nói riêng và các môn xã hội nhân văn nói chung có phần bị xem nhẹ. Nhiều người cho rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của khoa học kỹ thuật hiện đại, thế kỷ của hội nhập toàn cầu nên cần coi trọng các môn học có tính ứng dụng khoa học kỹ thuật cao mà không còn quan tâm nhiều đến môn văn học, đến giá trị nhân văn của con người. Dường như họ đã quên mất rằng: chính sự tĩnh lặng trong từng con chữ, sự sâu sắc trong những trang văn đã giúp ta nhìn lại mình và có khoảng bình yên trước khi bước tiếp trên con đường sự nghiệp. Mọi loại văn bản, mọi lời giao dịch cũng đều từ cái gốc chung là tâm tư con người, là văn chương đấy thôi.
                                                        Cô giáo Trần Thị Châu – Phó Hiệu trưởng
                                                                đọcquyết định tổ chức câu lạc bộ
Và hôm nay, dưới sự chỉ đạo của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Anh sơn, được sự nhất trí của ban lãnh đạo trường THCS Anh Sơn, Tổ Ngữ văn trường THCS Anh Sơn ra mắt chương trình ngoại khoá văn học với chủ đề “ Thơ văn thời Lý- Trần”. Với chương trình này, chúng ta được về với Triều đại nhà Lý và kinh thành Thăng Long nghìn năm văn hiến, ta được sống lại với hào khí Đông A kiêu hùng, mãnh liệt thời Trần đánh giặc Nguyên-Mông. Và quan trọng hơn là ta được về với cội nguồn dân tộc, được một lần thấy hết giá trị đích thực của văn chương.
      Thay mặt ban tổ chức, tôi xin trịnh trọng tuyên bố chương trình ngoại khoá văn học bắt đầu.
  Về dự buổi ngoại khoá hôm nay, chúng ta vinh dự được đón tiếp
  - Thầy Nguyễn Đức Vĩnh-  HUV -Trưởng phòng GD & ĐT; Cô Nguyễn Thị Việt – Phó Trưởng phòng GD & ĐT; Thầy Đoàn Văn Thanh – Phó Trưởng phòng GD & ĐT, Thầy Nguyễn Văn Lĩnh – Phó Trưởng phòng GD & ĐT, Nhà giáo ưu tú Lê Thị Hòa – Chủ tịch công đoàn Ngành Giáo dục; Tổ chuyên môn THCS, Tổ công nghệ thông tin phòng GD & ĐT. Đề nghị chúng ta nhiệt liệt chào mừng.
 - Chúng ta được đón tiếp các thầy giáo, cô giáo là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường THCS, tổ trưởng tổ chuyên môn KH –XH các trường THCS. Đề nghị chúng ta nhiệt liệt hoan nghênh.
 - Chúng ta được đón tiếp đại diện lãnh đạo các trường Tiểu học trong huyện nhà. đề nghị chúng ta nhiệt liệt chào mừng.
 - Chúng ta nhiệt liệt hoan nghênh sự có mặt đông đủ của các thầy giáo, cô giáo và các em học sinh trường THCS Anh sơn . 
Kính chúc quý vị đại biểu, các thầy giáo, cô giáo và các em học sinh lời chúc sức khoẻ, hạnh phúc và thành đạt.   Tôi xin trân trọng cảm ơn!
                                                       Nguyễn Thị Bắc – Tổ trưởng
                                         Tổ Khoa học – Xã hội trường THCS Anh Sơn




BÀI CHÀO MỪNG TẠI BUỔI NGOẠI KHOÁ VĂN HỌC
                                               Cô giáo Nguyễn Thị Việt - Phó Trưởng phòng GD – ĐT Anh Sơn
                                                                                  phát biểu chào mừng


Kính thưa quí vị đại biểu!
Kính thưa các thầy giáo, cô giáo!
Thưa toàn thể các em học sinh!
     Năm học 2011-2012 có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là năm học đầu tiên thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, năm học thứ 2 thực hiện Nghị quyết đại hội Tỉnh Đảng bộ Nghệ An lần thứ XVII, huyện Đảng bộ Anh Sơn lần thứ XIX. Trên cơ sở định hướng của Chủ tịch nước trong thư gửi ngành giáo dục nhân dịp khai giảng năm học mới 2011-2012 ngày 23 tháng 8 năm 2011; Chỉ thị năm học 2011-2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Nhiệm vụ năm học của Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An; Xuất phát từ thực trạng dạy học tại các nhà trường, Phòng Giáo dục và Đào tạo Anh sơn chọn nội dung giáo dục truyền thống, giáo dục đạo đức, lối sống, trách nhiệm làm người cho học sinh là khâu" đột phá" với giải pháp đẩy mạnh chất lượng dạy học các môn KHXHNV bằng việc tổ chức hoạt động NGLL, câu lạc bộ và ngoại khoá nhằm thực hiện đúng bản chất dạy – học toàn diện trong trường phổ thông.
Kính thưa quí vị đại biểu!
Kính thưa các thầy giáo, cô giáo!
Thưa toàn thể các em học sinh!
  “Văn học là nhân học”: Đây là câu nói nổi tiếng của đại văn hào người Nga Mác xim Goocki. Câu nói mang ý nghĩa khái quát về nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của văn học rằng: Văn học là một bộ môn khoa học giống như bất kỳ bộ môn khoa học nào khác. Đối tượng nghiên cứu của bộ môn này chính là con người. Song con người được đề cập đến không phải là con người bằng xương bằng thịt mà chính là con người tinh thần, con người đặt trong sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội, con người theo nghĩa viết hoa.
  “ Văn chương là cuộc sống”: Câu nói khẳng định mạch nguồn gốc rễ của văn chương. Văn chương bắt nguồn từ cuộc sống, phản ánh cuộc sống và trở lại phục vụ cuộc sống của con người. Văn chương gắn bó với cuộc đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước từ ngàn đời nay của dân tộc ta; Văn chương đi theo sát từng thời kỳ lịch sử để khắc hoạ nên những chiến công kỳ vĩ, hiển hách, gắn liền tên tuổi các vị anh hùng dân tộc.
    Chúng ta tự hào, từ thuở hồng hoang mở nước, ông cha chúng ta đã có cả kho tàng truyện cổ và pho sách ca dao, tục ngữ lưu truyền đến muôn đời;
     Chúng ta hãnh diện vì trong tất cả các triều đại phong kiến từ Thời Lý –Trần- Lê, Thời Trịnh- Nguyễn cho đến Thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ cứu nước... chúng ta đều có những áng văn chương bất hủ gắn liền với tên tuổi các nhà chính trị lỗi lạc, nhà quân sự kiệt xuất, nhà ngoại giao tài tình đồng thời là nhà văn, nhà thơ,... Tiêu biểu là Lý Công Uẩn- Người có công lớn trong việc lập quốc, định đô; Và Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Võ Nguyên Giáp và đặc biệt là Hồ Chí Minh được thế giới ca ngợi và bình chọn là vị tướng xuất chúng, là danh nhân văn hoá. Tất cả đã góp phần  làm rạng danh non sông đất nước Việt Nam.
     Hôm nay trường THCS Anh Sơn tổ chức chương trình ngoại khoá văn học với chuyên đề “ Thơ văn Lý- Trần” làm sống dậy cả thời lịch sử oai hùng và những đóng góp to lớn của văn chương. Tôi xin nhiệt liệt chào mừng sự cống hiến, đóng góp công sức, trí tuệ để làm nên chương trình ngoại khoá của tổ Ngữ văn trường THCS Anh Sơn. Chúc chương trình của chúng ta thành công./.
                                               
                                                  Nguyễn Thị Việt
- Phó Trưởng phòng GD&ĐTAnh Sơn

                                                                              Phát biểu chào mừng

                                       
                                          NGUT  Lê Thị Hòa - Chủ tịch Công đoàn Ngành tặng hoa chúc mừng


CHIẾU DỜI ĐÔ
( Thiên đô chiếu- Lí Công Uẩn )
Lí Thái Tổ- Lí Công Uẩn một vị vua anh minh, nhân ái.
      Ngữ văn 8 (chương trình mới) lần đầu tiên giới thiệu “Thiên đô chiếu” - Lí Công Uẩn. Văn bản giúp ta phần nào hiểu hơn về Hoa Lư, Thăng Long, nhà Lí, về vị vua anh minh, vị vua nhân ái Lí Thái Tổ, về đất nước thân yêu.
Trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là chiếu ? Chiếu là một thể loại văn học cổ, là loại văn bản của vua chúa ban xuống thần dân để công bố những chủ trương, đường lố, nhiệm vụ mà nhà vua yêu cầu thần dân thực hiện. Bài chiếu của Lí thái Tổ vừa giống với thể chiếu nói chung lại vừa có những nét riêng: đó là tính chất đối thoại, thuyết phục thần dân vừa thấu tình vừa đạt lí. Chính điều đó giúp nhà vua thu phục được nhân tâm và làm nên những kì tích trong những năm trị vì và trong lịch sử dân tộc.
Bài chiếu của Lí Công Uẩn là một đoạn văn do Ngô Sĩ Liên ghi lại sớm nhất ở thế kỉ 15 trong” Đại Việt sử kí toàn thư”. Do vua Lí thái Tổ ban hành vào mùa xuân 1010 (hơn sau 1 năm lên ngôi hoàng đế) để chuyển kinh đô từ Hoa Lư ra Đại La. Theo ý kiến GS Trần Quốc Vượng “ Chiếu dời đô” đã khẳng định được vai trò của kinh đô Thăng Long và triều Lí, đặc biệt là Lí Thái Tổ - người khai sinh ra vương triều nhà Lí (1010- 1225 ).
 
                                               Hoạt cảnh chiếu dời đô do học sinh trường THCS Anh Sơn trình bày
Ở bài chiếu này, ta thấy được Lí Thái Tổ- một vị vua anh minh, có tầm nhìn xa trông rộng. Điều đó thể hiện ở quyết định quyết đoán trong việc dời đô và chọn đất đóng đô ngay sau khi vừa lên ngôi một năm. Nhà vua đã đưa ra những cơ sở của việc dời đô để thần dân và kể cả chúng ta bây giờ cũng thấy là không thể không dời đô. Trước hết tác giả viện dẫn sử sách người xưa: Vua Bàn Canh – nhà Thương năm lần dời đô; nhà Chu đến thời vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Các vua không phải vì lợi riêng mà vì “mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu... cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh”. Vì sao tác giả lại viện dẫn sử sách để lầm điểm tựa cho lập luận của mình ? Vì nhà vua đã đánh vào tâm lí sùng cổ, tư tưởng "Thiên mệnh” của người xưa  và chính bản thân nhà vua cũng nhận thấy đó là lẽ đương nhiên. Từ đó, tác giả đã soi sáng tiền đề vào thực tế hai triều Đinh, Lê (Tiền Lê ) không chịu dời đô- cũnh chính là không tuân theo mệnh trời (không phù hợp với quy luật khách quan), không theo việc làm đúng của người xưa nên hậu quả “triều đại không được lâu dài...muôn vật không được thích nghi”. Đây chỉ là cách nói của Lí Công Uẩn nhằm thuyết phục lòng người. Thực ra về mặt khách quan, thế và lực của nhà Lê và nhà Đinh lúc này chưa đủ mạnh nên phải dựa vào Hoa Lư. Còn trong đời Lí, do kinh tế, xã hội đã phát triển, việc đóng đô ở Hoa Lư là không còn phù hợp nưã. Tuy nhiên về mặt chủ quan Lí Công Uẩn có tầm nhìn sáng suốt. Tầm nhìn đó còn được thể hiện ở sự lí giải của ông về lợi thế của thành Đại La: “ Là nơi trung tâm của trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khổi chịu cảnh nhập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi”. Từ sự phân tích, lí giải trên, tác giả đi đến kết luận, khẳng định” Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”. Thực tế có nhiều ý kiến đánh giá rất cao về Đại La, trong đó phải kể đến nhận xét của sử gia Ngô Sĩ Liên trong "Đại Việt sử kí tiền biên” viết: " Núi là vạt áo che, sông là giải đai thắt, sau lưng là sông nước, trước mặt là biển, địa thế hùng mạnh mà hiếm, rộng mà dài, có thể là nơi vua ở hùng tráng, ngôi báu vững bền, hình thể Đại Việt không nơi nào hơn được nơi này”.
 
                                       Em   Dương Lâm Oanh-  Lớp 8D trường THCS Anh Sơn trình bày bài viết

Qua đó, ta thấy “Thiên đô chiếu” thể hiện ý tứ sâu sắc, tầm nhìn thời đại của một vị vua Đại Cồ Việt 1000 năm về trước. Bản chiếu nêu được vai trò của kinh đô thăng long. Và sau thời đại nhà Lí, Thăng Long vẫn là kinh đô của các triều Trần, hậu Lê, nhà Mạc, Lê Trung Hưng và ngày nay là thủ đô của nước CHXHCN Việt Nam. Thăng Long thực sự là “ nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.
     Hơn thế, chúng ta còn cảm nhận ở bài chiếu Lí Công Uẩn- một vị vua nhân ái. Nếu không có tầm nhín sáng suốt, một trái tim lo nước, thương dân thì có lẽ không có một quyết định quyết đoán, trọng đại đến như vậy ? Trước thực tế đời sồng muôn dân qua hai triều đai trước, Lí Công Uẩn viết "Trẫm rất đau xót về việc đó”. Sự nhân ái, từ tâm của nhà vua còn thể hiện trong lời lẽ, trong lập luận của bài chiếu. lẽ ra, bài chiếu chỉ là việc ban bố mệnh lệnh nhưng ở đây đã có tính chất trao đổi, đối thoại giữa vua và thần dân, từ đơn thoại chuyển sang đa thoại, kết hợp giữ lí trí và tình cảm... đã tạo được sự đồng thuận lớn. Đây chính là lí do chính làm nên một nhà Lí vững mạnh. Trong 18 năm trị vì, ông đã làm được nhiều việc trọng đại, được quốc sử ghi chếp lại. cụ thể:
 - Cho xây dựng kinh thành Thăng Long có quy mô bề thế;
 - Cho xây dựng nhiều chùa đẻ đáp ứng nhu cầu tâm linh, nhu cầu về tôn giáo, tín ngưỡng. Thời kì này Phật giáo được coi trọng, tôn sùng nhất. Ông là người đặt nền móng vững vàng cho sự hưng thịnh của phật giáo đời Lí;
 - Tiến hành những cuộc chinh phạt có hiệu quả đối với những thế lực nổi dậy ở hướng bắc;
  - Về ngoại giao, ông đã thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp với nhà Tồng;
  - Trong nước: Chính sách thuế chú ý chiếu cố cho người già yếu, kẻ mô côi, tàn tật, goa bụa...;
  - Có nhiều kiến trúc tiêu biểu trên nhiều lĩnh vực cho đất nước như: Chùa Một Cột, Chợ Đồng Xuân, Quốc Tử Giám...
    Các tác giả” Đại Việt sử kí” khen Lí Công Uẩn  là người “ Khoan từ nhân ái”. Sử gia Ngô Thì Sĩ đánh giá nhà Lí, nhà Trần có viết: “Triều Lí nhân ái, nhà Trần anh hùng”. Nền nhân chính đời Lí được hình thành chính là từ Thái Tổ Lí Công Uẩn. Triều Lí tồn tại 215 năm, với 8 đời vua là một triều đai lớn trong lịch sử VN có những vị vua anh hùng cứu nước và khai sáng văn hiếu dân dộc: Như Lí Thánh Tông (1054- 1072), Lí Nhân Tông( 1072- 1128), những nhà quân sự, chính trị kiệt xuất như Lí Thường Kiệt, Tô Hiến Thành..
 Ở nước ta thời xưa, “ Chiếu dời đô” là văn bản sớm nhất, đầu tiên của thể văn chiếu và là một văn kiện mang  ý nghĩa vô cùng to lớn về mặt chính trị, lịch sử; hơn thế nó còn là một áng văn hay, có giá trị văn học. Đọc chiếu, chúng ta thấy áng văn này đã thể hiện được rõ Lí Công Uẩn , người khai sáng triều Lí, khai sáng kinh đô Thăng Long. có tâmg nhìn chiến lược đại ngàn, đã định hướng đúng cho sự phát triển bền vững, lâu dài của đất nước. Cũng qua bài chiếu, chúng ta còn biết Lí Công Uẩn  có ngòi bút tả cảnh tài giỏi, giàu hình tượng và trí tưởng tượng, giàu tính dự báo. Nếu nhìn từ góc văn học sử mà nói,” Chiếu dời đô” quả là áng văn bất hủ mở đầu cho 1000 năm thơ văn viết về Thăng Long- Hà Nội.
 Chúng ta hôm nay, tìm hiểu bài chiếu, tìm hiểu những áng thơ văn của cha ông chính là một biểu hiện cho tấm lòng tri ân với người xưa, với quê hương, đất nước.       
                         Cô Nguyễn Thị Song Thao – Tổ Ngữ văn
                      Dương Lâm Oanh-  Lớp 8D trường THCS Anh Sơn



                                
CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRẦN QUỐC TUẤN TRONG " HỊCH TƯỚNG SĨ"
 Hưng Đạo Đại Vương, Quốc Công Tiết chế Trần Quốc Tuấn là người anh hùng dân tộc, nhà chiến lược chính trị, thiên tài quân sự. Người chính là biểu tượng thiêng liêng, cao đẹp cho sức mạnh, khí phách và bản lĩnh con người Việt Nam thời đại Lý- Trần. Trần Quốc Tuấn sinh năm 1231, mất năm 1300, con trai thứ của An Sinh vương Trần Liễu, là tông thất nhà Trần ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, Nam Định. Người đã có công lớn trong 3 cuộc kháng chiến chống Nguyên- Mông vô cùng gay go, ác liệt của dân tộc : 1258, 1285, 1288. Ngược dòng lịch sử, trở về hơn bảy trăm năm trước, khi cả thế giới đang trong cơn kinh hoàng, khiếp đảm về họa Tác -Ta, chúng lướt trên vó ngựa viễn chinh tàn phá hết nước này sang nước khác, từ Thái Bình Dương đến tận bên bờ Ðịa Trung Hải, khắp Á, Âu chưa có một danh tướng nào cản được.Vậy mà, khi đặt chân lên đất nước Đại Việt, lũ giặc Mông-Nguyên ấy đã phải kinh hồn, lạc phách trước ý chí chiến đấu và tài nghệ quân sự tuyệt vời của vị chỉ huy Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn. Chiến công vĩ đại 3 lần đánh tan giặc Mông-Nguyên đã đưa Trần Quốc Tuấn trở thành 1 trong 10 vị tướng kiệt xuất nhất thế giới, do hội đồng khoa học hoàng gia Anh bầu chọn vào năm 1992.
 
                                                   Cô giáo Nguyễn Thị Kim Loan, trình bày bài viết của cá nhân
                 
 Trần Quốc Tuấn là tấm gương sáng ngời về lòng trung quân ái quốc. Khi giặc Mông - Nguyên sang xâm lược, trái tim yêu nước Trần Quốc Tuấn không có chỗ cho hiềm thù nội tộc mà phương hại vận mệnh quốc gia. Lắng nghe lời trăng trối báo thù của cha - An Sinh vương Trần Liễu, người có hiềm khích với vua Trần Thái Tông, cho đúng đạo làm con, nhưng Người không nuôi hiềm khích, không muốn đoạt ngôi, dù dễ như trở bàn tay, bởi người biết: loạn triều thì lòng dân ly tán, vận nước nguy vong. Bản lĩnh anh hùng của Trần Quốc Tuấn thể hiện ở quyết tâm diệt địch và thắng địch không gì lay chuyển. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, khi sự mất còn của nền độc lập dân tộc chỉ trong gang tấc, quân xâm lược đã chiếm được nhiều địa bàn trọng yếu, trong đó có cả Kinh thành Thăng Long và phủ Thiên Trường, nội bộ quan lại triều đình đã có người nao núng, hàng giặc, Trần Quốc Tuấn vẫn hiên ngang bất khuất, giữ vững lòng tin son sắt vào sức mạnh dân tộc. Trước vua Trần Thánh Tông, Người nói lời quật khởi của núi sông: "Nếu bệ hạ muốn hàng, hãy chém đầu thần đi đã", câu nói sáng bừng lên khí thế “sát thát”-  khí thế của những con người làm nên khúc tráng ca thời đại Lí - Trần.
 

     
                                           Đội văn nghệ liên quân THCS Anh Sơn và THCS Thạch – Thị
Trần Quốc Tuấn là một vị tướng  có tầm nhìn sáng suốt. Người hiểu rằng muốn thắng giặc thì ý chí quyết chiến, quyết thắng của vị thống soái là chưa đủ, mà cần có sức mạnh tổng hợp. Sức mạnh ấy là sự chung sức đồng lòng của cả dân tộc. Vì thế, trước khi diễn ra cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần thứ hai, Trần Quốc Tuấn đã viết: “Dụ chư tỳ tướng hịch văn”( hay còn gọi là “Hịch tướng sĩ”) để kêu gọi toàn quân đồng lòng đánh giặc cứu nước. Bài hịch ra đời trong tình thế đất nước ngàn cân treo sợi tóc, thế giặc mạnh và vô cùng hung dữ đang giày xéo lên đất nước, vậy mà các tướng lĩnh của ta chỉ biết ăn chơi, hưởng lạc, quên đi trách nhiệm với giang sơn xã tắc. Trần Quốc Tuấn, với cương vị là 1 chủ tướng, đã nhìn thấy những “tên địch” ấy ngay trong chính  tỳ tướng của mình, nó là nguy cơ dẫn tới khả năng bại vong của  dân tộc. Do đó, mục đích của bài hịch là kêu gọi, động viên các tỳ tướng chiến đấu chống lại sự hèn kém, xấu xa, bạc nhược, ích kỉ của chính mình trước vận nước lâm nguy;  khơi dậy lòng yêu nước, căm thù giặc, ý thức tự tôn dân tộc, thổi bùng nhiệt huyết xả thân vì nền độc lập.
     Nổi lên trong bài hịch là hình ảnh người anh hùng vĩ đại Trần Quốc Tuấn- cái tôi trữ tình yêu nước, căm thù giặc sâu sắc. Với giọng điệu hùng hồn, rắn rỏi, Trần Quốc Tuấn đã đanh thép tố cáo tội ác tày trời của kẻ xâm lược: “ Bọn sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, giả hiệu Vân Nam Vương mà thu vét bạc vàng...”. Bằng nghệ thuật ẩn dụ, câu văn biền ngẫu nhịp nhàng, đối xứng, Trần Quốc Tuấn  đã bộc lộ lòng căm thù sục sôi, niềm uất hận trào dâng mãnh liệt khi chứng kiến sự tham tàn, bạo ngược của bọn giặc Mông-Nguyên. Không những thế, nỗi lòng, ý chí, quyết tâm của vị chủ tướng còn được giãi bày thống thiết, xúc động biết bao: "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìạ, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù, dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng”. Có lẽ, chưa bao giờ trong văn học cổ Việt Nam, lòng yêu nước lại được thể hiện một cách sâu sắc, thiết tha, mãnh liệt và lay động lòng người đến thế! Tâm, trí và lời cuồn cuộn như lửa cháy, vừa đau xót mãnh liệt, vừa hận thù bỏng rát. Câu văn: “dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng." vang lên như một lời thề thiêng liêng trước sông núi, thể hiện ý chí, quyết tâm đánh giặc cao độ của người anh hùng thuở “Bình Nguyên”!
      Cái tôi trữ tình Trần Quốc Tuấn  trong bài hịch còn là cái tôi chủ tướng trong quan hệ  gắn bó với tỳ tướng của mình. Đó là mối quan hệ theo đạo “thần- chủ” nhưng chứa chan tình nghĩa, đồng cam cộng khổ, vào sinh ra tử có nhau: “...lúc trận mạc thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn hạ thì cùng nhau vui cười...”.  Và cũng vì mối tình chủ - tướng sâu nặng : “Tướng sĩ một lòng phụ tử,  Hoà nước sông chén rượu ngọt ngào”, nên Trần Quốc Tuấn  đã thẳng thắn, nghiêm khắc phê phán tướng sĩ khi chỉ biết cầu an, hưởng lạc mà đớn hèn cúi đầu trước nỗi nhục đất nước bị chà đạp, triều đình bị sỉ mắng, mồ miếu tổ tông bị giày xéo; nhưng có khi lại tha thiết tâm tình, động viên tỳ tướng của mình nêu cao cảnh giác, chăm lo học tập binh thư yếu lược, rèn luyện võ nghệ, dốc lòng cứu quốc. Lời văn sôi nổi, thiết tha, lý lẽ sắc bén hoà quyện với tấm lòng nhân ái vô biên của của vị chủ tướng đã tạo nên sức cuốn hút mạnh mẽ của bài hịch. Vì thế, mỗi câu trong bài Hịch có sức nặng ngàn cân, truyền đến ba quân tướng sĩ ý chí quyết chiến, quyết thắng, biến sức mạnh tinh thần thành hành động. “Hịch tướng sĩ” đã trở thành hồi kèn xung trận, là bản anh hùng ca yêu nước vĩ đại của thời đại Đông-A. Và với “trái tim hừng hực lòng yêu xứ sở, yêu giống nòi” ấy, chính Trần Quốc Tuấn đã dẫn đầu ba quân trăm họ phá giặc ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, đốt thuyền giặc trên sông Bạch Đằng, ghi tạc vào lịch sử dân tộc những chiến công vang dội, lẫy lừng.
       Trái tim yêu nước vĩ đại Trần Quốc Tuấn đã đập cùng nhịp đập với giang sơn xã tắc, đến tận giây phút cuối cùng (vào ngày 20-8 Âm lịch năm 1300) còn chan chứa lòng thương dân, gửi lại muôn đời lời trăng trối: "Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, ấy là thượng sách để giữ nước". Tấm lòng Trần Quốc Tuấn vằng vặc như trời cao, biển rộng, nhân đức, đẹp đẽ và thánh thiện! Người là nơi hội tụ, chung đúc và lắng đọng những giá trị nhân văn cao quý của một thời đại kiêu hùng trong lịch sử dân tộc - thời đại nhà Trần.
       Từ giã cuộc đời, Người muốn hóa thân vào sông núi. Người không dặn xây lăng tẩm, lập đền đài, khắc bia vĩnh cửu. Cả cuộc đời xông pha trận mạc, sống trọn vẹn với nước với dân, người anh hùng dân tộc vĩ đại Trần Quốc Tuấn hóa “Thánh” trong tâm thức nhân dân ta, đã đi vào thế giới huyền thoại, đi vào thế giới tâm linh của người Việt, bởi nhân cách của Người, tài năng của Người kỳ vĩ, siêu phàm mà người thường không sánh kịp. Người đã từ Ðức Thánh Trần rồi đến Ðức Thánh Cha - biểu tượng thiêng liêng về bậc đại Nhân, đại Trí, đại Dũng, từ một nhân vật lịch sử "bằng xương bằng thịt" đã trở thành vị thánh thiêng, một trong “tứ bất tử” được nhân dân thờ phụng rộng rãi mà tiêu biểu là tại đền thờ Kiếp Bạc,  huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
       Tên tuổi của Trần Quốc Tuấn cùng vương triều nhà Trần đã đi vào lịch sử, mãi mãi là niềm tự hào của nhân dân Việt Nam, cũng như âm hưởng của “Hịch tướng sĩ” ngàn năm còn vang mãi, để nhắc nhở ta bài học về lòng yêu tổ quốc, về ý thức trách nhiệm với non sông đất nước, về lối sống hiên ngang, bất khuất, khí phách trung dũng, kiên cường trước mọi âm mưu của kẻ thù. Đó là tài sản tinh thần vô giá, được dân tộc ta giữ gìn, tiếp nối và phát huy mạnh mẽ. Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân dân ta, hết thế hệ này đến thế hệ khác, đã không tiếc máu xương để giành độc lập, tự do cho tổ quốc, để hôm nay, chúng ta được thụ hưởng trọn vẹn nền hoà bình, độc lập, được làm chủ cơ đồ đất nước thân yêu. Tuổi trẻ chúng ta chính là rường cột của đất nước, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh phần lớn phụ thuộc vào chúng ta. Vì thế, hôm nay, chúng ta cùng nhau đọc lại “Hịch tướng sĩ” để mỗi người tự bồi đắp cho mình lòng nhiệt huyết cống hiến, ý thức trách nhiệm với cộng đồng, chí khí vươn lên rèn đức, luyện tài, ngày mai lập nghiệp, góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của ông cha, làm rạng danh đất nước cùng năm châu bốn biển. Đó là lối sống xứng đáng nhất, là lời tri ân đẹp nhất với tổ tiên anh hùng của ta!

                                                       Nguyễn Thị Kim Loan
                                                 ( Tổ Ngữ Văn – THCS Anh Sơn)




CẢM NHẬN BÀI THƠ "THUẬT HOÀI" CỦA PHẠM NGŨ LÃO

 Phạm Ngũ Lão (1255–1320). Ông là người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, Hải Dương (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên).
Với tài năng bẩm sinh và chí hướng đúng đắn của mình, lại được đích thân Trần Quốc Tuấn rèn luyện, Phạm Ngũ Lão mau chóng trở thành một trong những vị tướng xuất sắc nhất trong hai lần đánh tan giặc xâm lược Mông – Nguyên. Và  chính  Phạm Ngũ Lão là một trong những nhân vật góp phần tạo nên hào khí của thời đại nhà Trần -  Hào khí Đông A
 
                                                         Cô giáo Nguyễn Thị Hoài, trình bày bài viết của cá nhân

Âm vang của thời đại Đông A với những chiến công lẫy lừng trong lịch sử chống ngoại xâm, ba lần đánh bại  Mông - Nguyên đã in dấu trên nhiều trang viết của các nhà thơ đương thời. Phạm Ngũ Lão cũng tỏ lòng mình qua “ Thuật hoài”- tác phẩm thể hiện rất đẹp hình ảnh và khí thế của người trai thời đại, cũng là tư thế của dân tộc trong những ngày lịch sử hào hùng ấy.
Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu
Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.
Bài thơ được dịch giả Bùi Văn Nguyên dịch thơ như sau:
Múa giáo non sông trải mấy thu,
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.
Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.
     Bài thơ chữ Hán, vẻn vẹn 28 chữ nhưng đã mang một dung lượng thông điệp thẩm mĩ lớn, thể hiện khí phách nhà thơ – dũng tướng.
Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu
Câu khai đề của bài thơ tạo một tư thế đẹp của con người. Cầm ngang ngọn giáo ( hoành sóc) là tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang, dũng mãnh. Câu thơ vừa có hình tượng kì vĩ, tráng lệ (hình ảnh con ngươì cầm ngang ngọn giáo) vừa mang tầm vóc không gian (giang sơn), vừa mang kích thước thời gian, chiều dài lịch sử (cáp kỉ thu). Nó thể hiện tư thế người chiến sĩ thuở “bình Nguyên” ra trận trong hiên ngang, hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại. Ta thấy thấp thoáng đâu đó hình ảnh của chàng Thạch Sanh vung búa đánh chằn tinh, giương cung bắn đại bàng trong cổ tích thuở nào…Câu thơ xác lập một tư thế con người lồng lộng giữa đất trời, ngang tầm vũ trụ. Không những thế, cả đoàn quân cùng chung tư thế ấy:
Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu.
Câu trên là hình ảnh, câu dưới là thần thái con người. Đội quân “Sát thát” ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp (ba quân) với sức mạnh như hổ báo (tì hổ) quyết đánh tan kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân ấy ào ào ra trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. “Khí thôn ngưu” nghĩa là khí thế tráng chí nuốt sao ngưu, làm át, làm lu mờ sao Ngưu trên bầu trời. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Tam quân tì hổ…” trong thơ Phạm Ngũ Lão rất độc đáo, không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân đánh đâu thắng đó mà nó còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca, tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc. Ta cũng sẽ bắt gặp hình ảnh này trong “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu:
“Thuyền bè muôn đội;
Tinh kì phấp phới
Tỳ hổ ba quân giáo gươm sáng chói…”
Người chiến sĩ  “bình Nguyên” ra trận mang theo một ước mơ cháy bỏng: Khao khát lập chiến công để đền ơn vua, báo nợ nước. Khí  thế ấy là biểu hiện rực rỡ những tấm lòng trung quân ái quốc của các tướng sĩ, khi tầng lớp quý tộc đời Trần trong xu thế đi lên gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại của dân tộc
 

        
                                   Đội văn nghệ liên quân THCS Anh Sơn và THCS Thạch – Thị
 Hai câu đầu mới chỉ là nền để nhà thơ bộc bạch lòng mình, đến hai câu sau
Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.
Đây mới là điều canh cánh bên lòng của người dũng tướng, gắn với bổn phận của kẻ làm trai thời phong kiến. Nguời xưa quan niệm làm trai là phải có sự nghiệp và danh tiếng để lại muôn đời. Chí làm trai được coi là món nợ phải trả của đấng nam nhi. Ca dao xưa đã từng viết:
Làm trai cho đáng nên trai
Xuống Đông Đông tĩnh, lên Đoài Đoài yên
Đến đầu thế kỉ XX, nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu cũng bộc bạch:
Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời.
Trở  lại  với  câu thơ  của  Phạm  Ngũ  Lão, ta thấy  tác  giả  nhắc  đến  hai từ  “công danh”. “Công danh” mà thi nhân nói đến trong câu thơ không phải là thứ công danh tầm thường, cá nhân mà được làm nên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công… Tiếp nối chí khí và khát vọng của cha ông, sau này Nguyễn Công Trứ cũng bày tỏ:
Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
Còn  Phạm tướng quân đã bày tỏ khát vọng được đóng góp cho đất nước. Khát vọng ấy thật đẹp và cao cả. Tất cả nỗi niềm của ông được thổ lộ trong sự đối sánh với tấm gương Vũ Hầu Gia Cát Lượng thuở xưa - vị quân sư nổi tiếng đã giúp Lưu Bị khôi phục nhà Hán. Phạm Ngũ Lão thẹn vì thấy mình không tài giỏi như Vũ Hầu để lập công giúp nước. Nỗi thẹn của người anh hùng tỏa sáng một nhân cách lớn. Băn khoăn ấy không dành riêng cho bản thân mà toàn tâm, toàn ý hướng về nghiệp lớn muôn đời, vì sự bình yên của sơn hà xã tắc. Hai câu thơ đã bộc lộ chí lớn và cái tâm cao cả của người tráng sĩ.
     Bài thơ là sự phản chiếu một thời đại hào hùng, khi lí tưởng trung quân, ái quốc hòa nhịp trọn vẹn trong tình cảm, tâm hồn nhà thơ, thời đại “Vua tôi đồng lòng, anh em đồng thuận, cả nước ra sức”. Tâm nguyện của Phạm tướng quân đã phản chiếu tâm tư của bao người con đời Trần: ý thức rõ giá trị bản thân, nhận rõ sự gắn bó cá nhân với cộng đồng - dân tộc - đất nước. Xúc cảm hào hùng tỏa sáng trong hình tượng thơ, đem đến cho người đọc cái nhìn trọn vẹn về con nguời thời đại Đông A.
Đọc bài thơ, ta như nghe còn vang vọng lời Thái sư Trần Thủ Độ trả lời Trần Thái Tông khi Mông - Nguyên xâm lược Đại Việt lần thứ nhất: Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo, lời Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trả lời vua Trần trong cuộc chiến lần hai: Nếu bệ hạ muốn hàng trước hết hãy chém đầu thần đi đã, lời Trần Bình Trọng trước khi bị kẻ thù sát hại: Ta thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc, hay hành động Trần Quốc Toản tự lập đội quân với Lá cờ thêu sáu chữ vàng: Phá cường địch báo hoàng ân... Ta nghe trong bài thơ dường như còn có cả sự đồng vọng ý thơ, khí thơ của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải trong bài “Tụng giá hoàn kinh sư”: Đoạt sóc Chương Dương độ, Cầm Hồ Hàm Tử quan. (Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù)… Tất cả đã tạo nên hào khí rất riêng của thời đại nhà Trần.
     Là thế hệ học sinh của thế kỉ XX các em hãy suy nghĩ, hành động đúng đắn để tiếp nối hào khí của cha ông ngày trước. Hãy tạo nên một hào khí mới trong thời đại mới, hãy bắt đầu tương lai của mình bằng những hành động đẹp dù là nhỏ nhất.
Đây là cách hành sử đúng đắn và rất cần thiết với chúng ta - những hậu duệ của Phạm Ngũ Lão.

                  Nguyễn Thị Hoài
     ( Tổ Ngữ Văn – Trường THCS Anh)




VẺ ĐẸP TÌNH QUÊ TRONG BÀI THƠ
THIÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG CỦA TRẦN NHÂN TÔNG

                        
      Trần Nhân Tông là một thiên tài quân sự, một thi sĩ tài damh, một vị vua anh minh đời Trần! Người thường vi hành thăm thú cảnh đẹp của non sông đất nước.Trong một lần trở về thăm quê hương đất tổ - Mảnh đất Thiên Trường  thuộc Nam Định ngày nay, trước ánh chiều tà rất đep của làng quê, cảm xúc của thi nhân vụt đến:
 
   
                                Cô giáo Nguyễn Thị Thu Hà – Người dẫn chương trình
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng, địch lí ngưu quy tận
    Bạch lộ song song phi hạ điền
      Dịch nghĩa:
                  Sau thôn trước thôn đều mờ mờ như khói phủ
                  Bên bóng chiều (cảnh vật) nửa có nửa như không
                  Trong tiếng sáo, mục đồng dẫn trâu về hết
                  Từng đôi cò trắng hạ cánh xuống đồng.
    Dịch thơ:
                  Trước xóm sau thôn tựa khói lồng
                  Bóng chiều man mác có  dường không
                  Mục  đồng sáo vẳng trâu về  hết
                  Cò  trắng từng đôi liệng xuống đồng.

      Một bức tranh chiều đẹp yên ả được bắt nguồn từ một tấm lòng yêu dân tha thiết của một bậc đế vương đời Trần. Bài tứ tuyệt ngắn gọn đã lột tả cảnh thôn xóm làng mạc qua cái nhìn và cảm xúc của thi nhân. Cảm xúc lắng đọng, cái nhìn man mác bâng khuâng ôm trùm cảnh vật. Đứng ở phủ Thiên Trường trông ra: Phía trước là xóm, phía sau là thôn... Cả xóm thôn bắt đầu chìm dần vào sương khói.Cái  sương khói mờ xa của buổi chiều sao nên thơ, êm đềm đến vậy?  Và có  lẽ trời đã cuối thu đầu đông nên bóng chiều man mác, nhẹ nhàng ẩn hiện chập chờn như có
         như không….
          
                                      Em Nguyễn Thị Hà Trang – Lớp 7c THCS Anh Sơn trình bày

Bốn chữ: “Thôn hậu thôn tiền” liên kết với cụm từ “ bán vô bán hữu” tạo nên cái cân xứng hài hòa về ngôn ngữ đã gợi lên cảnh xóm thôn nối tiếp gần xa, đông đúc, trù phú.  Trong bóng chiều nhạt nhòa, xóm thôn phủ mờ khói khói nhạt, bay  là là trên mái nhà tranh sau luỹ tre làng . Đó là vẻ đẹp mơ màng nơi thôn dã... Cách tả cảnh của nhà thơ thơ thật tài tình: tả  ít gợi nhiều,( một nét đặc sắc trong thi pháp cổ) đã làm hiện lên một không gian nghệ thuật về cảnh sắc làng quê trong một buổi chiều tà phủ mờ sương khói, yên tĩnh, nên thơ. Nét  vẽ  thanh nhẹ, cảnh vật bao la, tĩnh lặng. Cảnh và tình quyện hòa. Phải chăng cảnh sắc này được cảm nhận và rung động từ một tâm hồn tinh tế, từ một tình yêu thiên nhiên say đắm, từ một trái tim luôn mở ra với tạo vật bao la, từ một cảm quan nhân sinh trong trẻo đến lạ kì? Cả một hồn quê man mác gợi cảm!

Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên
           Bán vô bán hữu tịch dương biên
          (Trước xóm sau thôn tựa khói lồng
                      Bóng chiều man mác có  dường không)
          Hai câu thơ cuối với âm thanh tiếng sáo của mục đồng dẫn trâu về, với sắc trắng của cánh cò đã tạo nên vẻ đẹp chấm phá của cổ thi. Đây là hai hình ảnh tiêu biểu cho đồng quê khi chiều về rất thân thuộc và đáng yêu: trên những nẻo đường quê, đàn trâu nồi đuôi nhau về thôn, trên lưng vắt vẻo  những đứa trẻ hồn nhiên tinh nghịch cất lên điệu sáo trúc vi vu…Và trên đồng làng, từng đôi cò  trắng bay liệng  nối tiếp. Một bức tranh  êm đềm, thanh bình ,  đậm đà sắc quê, hồn quê mà k mà không hiu quạnh vì ở đây vẫn ánh lên sự sống của con người. Con người hoà nhập vào cảnh vật, làm cho cảnh vật sống động và dào dạt tình người.
 
                                Học sinh bốc thăm trình bày các câu hỏi của chương trình

Là một bậc đế vưong nhưng tâm hồn và trái tim của Trần Nhân Tông lại thấm đẫm chất thi sỹ. THIÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG đã vượt qua thời gian để bây giờ mỗi lần đọc lại vẫn khơi  gợi cho mỗi chúng ta bao điều thú vị mới mẻ. Ta vẫn thấy đâu đây cánh cò trắng bay trong ráng chiều đồng quê và chấp chới trong hồn ta! vẫn còn đâu đây âm thanh trong trẻo tiếng sáo lơ lửng trời chiều! Và đẹp lắm cánh đồng làng quê xứ sở! Thơ đích thực lầ thế!
Xín một phút lắng lại nhớ về thi nhân!
                       Nguyễn Thị Thu Hà – Tổ Ngữ văn
                      Nguyễn Thị Hà Trang – Lớp 7c THCS Anh Sơn



 
                                    Quang cảnh giáo viên và học sinh tham gia chương trình ngoại khóa

 
                                            Thầy giáo  Nguyễn Đức Vĩnh – Trưởng phòng GD & ĐT
                                               phát biểu cảm nhận buổi sinh hoạt câu lạc bộ.

 
                                           Thầy Nguyễn Đức Vĩnh – Trưởng phòng GD & ĐT
                                            phát biểu tổng kết và tặng hoa cho tổ Ngữ Văn


 
                                                  Ảnh lưu niệm kết thúc câu lạc bộ

Chương trình do Phòng Giáo dục & Đào tạo chỉ đạo; Ban giám hiệu nhà trường
- tổ Ngữ văn trường THCS Anh Sơn thực hiện.
 
Bài viết mới hơn
Bài viết cũ hơn
   Tìm kiếm
   Ban quản trị Website
  • Nguyễn Đức Vĩnh
    Trưởng Ban biên tập
    vinhnd.as@nghean.edu.vn
  • Phạm Sơn Hà
    Phó ban biên tập
    sonha.itpgdas@nghean.edu.vn
  • Trần Trung Sơn
    Biên tập viên
    sontt.as@nghean.edu.vn
   Trường đạt chuẩn
Trường THCS Anh Sơn
   Tin tức mới nhất
   Thông báo
   Trưng cầu ý kiến
Bạn đánh giá thế nào về hiệu quả mà Website mang lại

   Video
Thống kê truy cập
   Đang xem
: 22
   Hôm nay
: 138
   Tháng này
: 3319
   Tổng số
: 1258349
 
PHẦN MỀM TIỆN ÍCH
Phần mềmLink 2
Chụp ảnh màn hình
Phần mềm PCGD Edustatist 5.2 cập nhật ngày 23/08/2013
Phần mềm QLNT SchoolAssist 6.1 cập nhật ngày 14/09/2013
Phần mềm MINDMAP mới
LIÊN HỆ
PHÒNG GD&ĐT ANH SƠN
Điện thoại : (038) 3.872.130
Fax : (038) 3.872.130
Email : anhson@nghean.edu.vn
Website : http://anhson.edu.vn

HOTLINE : (038) 3.872.130

Bản quyền thuộc Phòng Giáo dục & Đào tạo Anh Sơn, tỉnh Nghệ An
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử số 114/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông - Cục QL Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 09/06/2011.
Sở GD&ĐT Nghệ An phê chuẩn tại công văn số 836/SGDĐT-CNTT ngày 11/05/2011
Mọi thông tin phát hành từ ANHSON.EDU.VN phải ghi rõ nguồn từ Website này.

phan mem, phần mềm, website, thiet ke web, thiết kế web, phan mem quan ly, phan mem quan ly ban hang, phan mem quan ly nha hang, website gia re, phan mem trung viet, cong ty thiet ke web, thiet ke web tp vinh, phan mem nghe an, phan mem tp vinh, phan mem thanh pho vinh, cong ty phan mem nghe an, cong ty thiet ke web nghe an, phần mềm, phần mềm quản lý, phần mềm quản lý bán hàng, website nghệ an, công ty phần mềm nghệ an, công ty phân mềm, công ty thiết kế web