Saturday, 18/09/2021 - 12:45|
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ PHÒNG GIÁO DỤC ANH SƠN
Liên kết website
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tháng 7 Về, Nhớ Các Nhà Giáo Liệt Sỹ Hy Sinh Vì Sự Nghiệp Giáo Dục Miền Nam

Tính từ ngày 22/5/1961 đến ngày 10-12-1974 - ngày mà “đoàn nhà giáo miền Bắc đi B” đầu tiên và cuối cùng lên đường vào chi viện cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ, có tất cả 31 đoàn với 2.752 nhà giáo. Trong số đó, theo ông Chu Cấp (Trưởng Ban Liên lạc Nhà giáo Nghệ An đi B), có khoảng 200 nhà giáo người Nghệ An; có người ra đi từ chính Nghệ An, nhưng cũng có nhiều người ra đi từ Cơ quan Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ các cơ sở giáo dục ở các tỉnh và thành phố khác, như: Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Thái Bình, Thanh Hoá, Quảng Ninh, Hà Tây, Hà Nội, Hải Phòng,…   

          Sau cuộc họp mặt truyền thống "Nhà giáo Nghệ An đi B" được tổ chức vào ngày 30 và 31-5-2020 tại thị xã Cửa Lò, tôi tiến hành tập hợp và đến nay trong danh sách Nhà giáo Nghệ An đi B đã có tên của 203 người.  

Những nhà giáo Nghệ An làm nhiệm vụ chi viện cho giáo dục cách mạng miền Nam, khi ra đi, có người là cán bộ quản lý ở các cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục (như: nhà giáo Trần Đạo, sinh năm 1922, đi B năm 1962, khi ra đi là Quyền Trưởng Ty Giáo dục Nghệ An; nhà giáo Nguyễn Thái Như, sinh năm 1927, đi B năm 1964, khi ra đi là Hiệu trưởng Trường Phổ thông Cấp 3 Đô Lương; nhà giáo Đinh Sĩ Điền, sinh năm 1932, đi B năm 1969, khi ra đi là Hiệu trưởng Trường Phổ thông Cấp 2 Quỳnh Long;…), có người là giáo viên giáo viên cấp 3, cấp 2 (như: nhà giáo Dương Ngọc Yến, sinh năm 1941, đi B năm 1969, khi ra đi là giáo viên Trường Phổ thông Cấp 3 Diễn Châu 2; nhà giáo Hồ Thị Toan, sinh năm 1951, đi B năm 1973, khi ra đi là giáo viên Trường Phổ thông Cấp 2 Quỳnh Lâm;…) và có cả giáo viên mẫu giáo (như nhà giáo Nguyễn Thị Hợi, đi B năm 1969).

Theo nhà giáo Chu Cấp (đi B năm 1965), cựu Hiệu trưởng Trường THPT Yên Thành 3: khi ra đi, có thầy giáo phải gạt nước mắt từ biệt mẹ già, cha yếu; có cô giáo vừa phải vấn lên đầu vành khăn tang vì mới nhận được giấy báo tử của người anh ở chiến trường; có người thì vợ sắp sinh, trong khi nhà xiêu, vách nát;… nhưng tất cả đều quyết chí lên đường. Vào miền Nam,  anh chị em có mặt ở hầu khắp các chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Quảng Trị,… Có người đi vào vùng Củ Chi ác liệt, vào Cà Mau, Đồng Tháp Mười; có người vào tận vùng giáp ranh giữa ta và địch. Tất cả đều với nhiệm vụ chủ yếu là bám dân, bám đất, vừa làm công tác đào tạo giáo viên, vừa xây dựng phong trào giáo dục vùng giải phóng, vừa chống càn, diệt ác, trừ gian. Và, mọi người đều đã vượt qua sự ác liệt của chiến trường, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, trong số đó có 15 người đã phải hy sinh; 4 người bị bắt, bị tù đày, bị tra tấn dã man nhưng vẫn giữ tròn khí tiết. 

Nhà bia tưởng niệm các nhà giáo hy sinh VSNGPMN
Bia tưởng niệm 19 nhà giáo liệt sĩ ở xã Tân Bình, Tân Biên, Tây Ninh

 

Cô giáo Lê Thị Bạch Cát, người con của thị xã Cửa Lò, sau khi vào chiến trường, được phân công về khu Sài Gòn - Gia Định tham gia biệt động thành với bí danh Sáu Xuân. Tháng 5/1966, Sáu Xuân tham gia thành lập Tiểu đoàn nữ biệt động Lê Thị Riêng. Tháng 3/1968, Sáu Xuân là Quận uỷ viên, Bí thư Quận đoàn Quận 3. Trong trận đánh ác liệt không cân sức ngày 05/5/1968, Sáu Xuân đã bình tĩnh, dũng cảm, mưu trí chỉ huy đồng đội chiến đấu, cầm cự với địch trong nhiều giờ. Khi không còn đạn, biết tình thế nguy cấp đang đến, Sáu Xuân ra lệnh cho đồng đội rút lui, còn bản thân mình ở lại cản đường địch bằng quả lựu đạn cuối cùng và đã anh dũng hy sinh.

Nhà giáo LS Lê Thị Bạch Cát (10-10-1940 - 05-5-1968) (ảnh chụp lại)
Nhà giáo Liệt sĩ Trần Đạo (1922-1964) (ảnh chụp lại)

 

Trong danh sách 203 người mà tôi đã thống kê được, có 15 người vĩnh viễn không trở về, đó là các liệt sĩ:

01. LS. Trần Đạo, quê Quảng Ngãi, đi B 1962, hy sinh 1964;

          02. LS. Lê Thị Bạch Cát, quê Cửa Lò, đi B 1964, hy sinh 1968;

          03. LS. Hoàng Nghĩa Minh, quê Hưng Lĩnh, đi B 1966, hy sinh 1969;

          04. LS. Nguyễn Cảnh Hân, quê Võ Liệt, đi B 1966, hy sinh 1968;

          05. LS. Thái Đàm Thụ, quê Thanh Thịnh, đi B 1969, hy sinh 1970;

          06. LS. Phan Văn Cường, quê Thuận Sơn, đi B 1969, hy sinh 1971;

          07. LS. Phan Văn Bưu, quê Hợp Thành, đi B 1969, hy sinh 1972;

          08. LS. Phạm Xuân Đào, quê Diễn Kim, đi B 1970, hy sinh 1970;

          09. LS. Phan Đình Hồng, quê Khánh Thành, đi B 1964, hy sinh 1972;

          10. LS. Chu Đình Bảng, quê Diễn Trường, đi B 1969, hy sinh 1972;

          11. LS. Phan Thanh Hóa, quê Nghi Long, đi B 1969, hy sinh 1972;

          12. LS. Nguyễn Xuân Tần, quê Hưng Tân, đi B 1969, hy sinh 1970;

          13. LS. Văn Đức Yến, quê Mai Hùng, đi B 1970, hy sinh 1973;

          14. LS. Kiều Ngọc Thất, quê Quỳnh Thuận, đi B 1970, hy sinh 1973;

          15. LS. Nguyễn Văn Qúy, quê Hưng Lộc, đi B 1966, chưa rõ năm HS.

          Cũng trong số 203 người ấy, có 04 nhà giáo đã từng bị địch bắt tù đày:

          1. NG. Chu Cấp, quê Hoa Thành, đi B 1965, bị tù 6 năm ở Côn Đảo;

          2. NG. Trần Văn Mậu, quê Diễn Quảng, đi B 1965, bị tù 5 năm ở CĐảo;

          3. NG. Thái Duy Trấp, quê Xuân Thành, đi B 1970, bị tù 6 tháng ở Đồng Tháp;

          4. NG. Trần Hanh, ở Nam Đàn, đi B 1970, bị tù 6 tháng ở Đồng Tháp.

 

                                                                               Ngân Giang


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tìm kiếm
Ban quản trị website
Đoàn Văn Thanh

Đoàn Văn Thanh

Trưởng Ban biên tập
  • Trường THCS Anh Sơn
    Trường THCS Anh Sơn
Trưng cầu ý kiến
Thống kê
Hôm nay : 128
Hôm qua : 90
Tháng 09 : 2.518
Tháng trước : 14.010
Năm 2021 : 47.635
Năm trước : 73.378
Tổng số : 159.807