• :
  • :
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ PHÒNG GIÁO DỤC ANH SƠN
Liên kết website
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đôi điều cảm nghĩ về anh bộ đội cụ hồ

(Giáo dục Anh Sơn) Lịch sử truyền thống của Dân tộc Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữ nước. Bao thế hệ nối tiếp làm rạng rỡ trang sử vàng đất Việt. Đối với Tổ quốc và nhân dân, Quân đội Nhân dân Việt Nam là biểu tượng cao đẹp về Anh “Bộ đội Cụ Hồ”. Bởi một lẽ, các Anh đã mang niềm vinh quang chiến đấu, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của tổ quốc, các Anh là mẫu hình con người mang nhân cách văn hóa Việt Nam.
         Qua suốt chặng đường 70 năm chiến đấu, rèn luyện và trưởng thành của quân đội nhân dân Việt Nam, từ trong chiến tranh, những mất mát, đau thương và sự hy sinh là biết bao câu chuyện huyền thoại về người lính đã trở thành bất tử; Chúng ta cùng nhớ lại, 2 cuộc kháng chiến, hơn 30 năm đất nước hằn sâu trong ký ức của mỗi nười con đất Việt đó là: những hố bom của quân thù, hàng ngàn vạn thanh niên lên đường ra trận dâng hiến tuổi xuân và nhiệt huyết cho nền hòa bình. Người trở về - nhưng một phần xương thịt còn để lại chiến trường, người nằm lại rừng xanh! Cùng nhớ lại, trên mỗi nẻo đường hành quân ra trận, tên đất, tên làng, tên núi, tên sông, ở nơi đâu cũng thành chiến lũy; Cùng nhớ lại, từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, đất Mẹ Tổ quốc không chỉ ghi dấu những chiến công lừng lẫy, mà cả những tượng đài tưởng niệm Liệt sĩ đến mai sau. Anh bộ đội Cụ Hồ trở về từ trong chiến tranh, anh Bộ Cụ Hồ đã yên nghỉ giữa lòng đất Mẹ và anh Bộ đội Cụ Hồ giữa thời bình, từng thế hệ, từng khoảng cách thời gian là dấu nối của lịch sử làm đậm chất anh hùng ca về người lính. Và thật sự, mỗi chúng ta, khi nghĩ về người lính đều dạt dào cảm xúc của lòng tự hào và biết ơn về các anh, những người chịu nhiều gian khổ nhất, hy sinh nhiều nhất. Một sự hy sinh cao thượng, dũng cảm, thầm lặng không chỉ riêng mình, mà còn là nỗi đau oằn trên vai những người mẹ, người vợ, người thân của gia đình các anh.
        Từ trong chiến tranh cho đến thời bình hôm nay, phẩm chất của anh bộ đội Cụ Hồ vẫn sáng mãi. Đó là chất thép được tôi luyện từ sự giáo dục của Đảng và Bác Hồ, của Quân đội và nhân dân. “Trung với Đảng, hiếu với dân” vẫn mãi là lời thề muôn đời của người lính. Những hình ảnh mang giá trị cao đẹp của bộ đội Cụ Hồ không kể hết: biên giới phía Bắc, phía Nam, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, cả trong thiên tai, trong xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. Có thể thấy, miền đất nào thiếu thốn và gian khổ nhất, nơi ấy có Bộ đội Cụ Hồ. Phẩm chất vì nhân dân quên mình đã ăn sâu vào máu thịt đối với các anh. Hai tiếng nhân dân đã trở thành mệnh lệnh trong trái tim của bộ đội Cụ Hồ. Bởi vậy, đâu phải chỉ trong thời chiến, mà cả thời bình, nhiệm vụ cứu dân trong thiên tai, nhiệm vụ bảo vệ mỗi tấc đất biên cương đều có sự hy sinh quả cảm của người lính.
        Và, rất tự nhiên, Bộ đội Cụ Hồ trở thành tên gọi thiêng liêng, vừa hết sức giản dị, vừa gần gũi thân thương, trở thành biểu tượng cao đẹp trong lòng nhân dân Việt Nam về một mẫu  hình con người mới xã hội chủ nghĩa, một nhân cách văn hóa Việt Nam.
          Nhà văn, nhà báo, nhà nhiếp ảnh người Mỹ Lady Borton khi sang Việt Nam đã nói: “Tôi đã đi nhiều nước trên thế giới, nhưng không ở đâu người dân lại yêu mến gọi lãnh tụ của mình là Bác, không có quân đội nào yêu mến gọi Tổng Tư lệnh bằng Anh (Anh Văn - Đại tướng Võ Nguyên Giáp) và cũng không nơi nào nhân dân yêu mến quân đội gọi là Bộ đội Cụ Hồ”. Có thể nói “Bộ đội Cụ Hồ” là một giá trị văn hóa độc đáo, tiêu biểu trong dòng chảy của nền văn hóa Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh, có sức lôi cuốn và lan tỏa đặc biệt. Mỗi khi mang lên mình bộ quân phục, dù ở trong đơn vị hay ở nơi công cộng, họ đều thể hiện phẩm chất của người quân nhân cách mạng.
           Cũng như bao người thuộc thế hệ trẻ, tôi may mắn được sinh ra, trưởng thành và học tập khi đất nước đã bình yên, được tự do hít bầu không khí hòa bình, tự do ngước nhìn mây trắng trời xanh mà nghe những bao la của quá khứ, mà thấm thía giá trị vĩnh hằng của những dâng hiến cao cả. Tôi tự hào vì tôi là người dân Việt Nam, tôi tự hào vì tôi được sinh ra trên mảnh đất làng Đỏ - Yên Phúc anh hùng.  Và may mắn hơn, tôi được lớn lên, học tập, rèn luyện và trưởng thành trong hòa bình thống nhất đất nước, nay trở thành người thầy giáo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa đang ngày đêm thay Đảng luyện chữ - rèn người.
           Đã qua rồi thời khói bom đạn lửa, gạt núi băng đèo nên tôi chỉ hình dung hai chữ “chiến tranh” qua lời kể của bà nội tôi về ông nội và các anh các bác, qua sách báo, qua phim ảnh, qua những chuyến tham quan đến những miền đất lịch sử theo dọc chiều dài đất nước. Trong đó những dấu ấn để lại sâu đậm nhất trong lòng tôi là các chuyến tham quan đến các nghĩa tranng liệt sĩ như nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, Thành cổ Quảng trị, Ngã Ba Đồng Lộc, Truông Bồn hay nghĩa Trang Việt Lào huyện Anh Sơn... Có một kỉ niệm tôi nhớ mãi đó là vào một ngày trời nắng vàng hanh hao của tiết trời mùa thu tháng 7-1995, những người dân xã Phúc Sơn quê tôi không ai cầm được nước mắt trong ngày khánh thành nhà bia tưởng niệm các liệt sỹ của hai cuộc kháng chiến của xã nhà. Tôi cũng như tất cả mọi người đều có đủ lý trí để hiểu rằng, đó chỉ là những hàng bia gắn tưởng niệm chứ không hề có được hài cốt của người thân, nhưng tất cả mọi người đã khóc, những giọt nước mắt hoà trong cơn mưa bất chợt của trời, tan trong từng nắm đất đưa tiễn các anh linh. Quá khứ giao hòa với hiện tại, âm dương hòa trộn vào nhau, có trong nhau như sự bất tử của các liệt sĩ và lòng thương nhớ khôn nguôi của người đang sống. Hình như ai cũng run lên vì một danh sách dài tên các liệt sỹ của xã, run lên vì những năm tháng ấy cái xã bé nhỏ, nghèo này đã lần lượt nhận bao nhiêu giấy báo tử của người thân nối tiếp nhau. Có nhiều mẹ đã dâng hiến cho đất nước hai người con thậm chí là ba bốn người con ra đi và không một lần trở lại thăm mái tranh nghèo – nơi các mẹ đang ngày đêm trông ngóng. Tôi đếm cả trong kháng chiến chống pháp, chống Mĩ và chiến tranh biên giới xã tôi đã có 189 liệt sĩ khắc ghi vào bảng vàng đài tưởng niệm. Các anh đã đi vào hồn thiêng sông núi để Tổ quốc Việt Nam được bay lên bát ngát những mùa xuân.
           Hôm nay, trang sử mới của dân tộc đã được mở ra- trang của sự đổi mới, phát triển và hội nhập  với thế giới. Trong quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa cao độ, hình ảnh anh “Bộ đội cụ Hồ” vẫn vẹn nguyên với vai trò tiên phong, đi đầu trong việc thực hiện nhiệm vụ cách mạng mới cùng toàn Đảng, toàn dân. Các chiến sĩ Bộ đội cụ Hồ hôm nay khoác trên mình màu xanh áo lính cũng đang hứng khởi bước vào các mặt trận với lòng nhiệt huyết và sức bật mới cùng thời đại. Người lính Cụ Hồ hôm nay vẫn tiếp tục thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đất nước hòa bình, song những người lính Cụ Hồ vẫn “ra trận” vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ “cõng chữ" lên vùng cao; “ba cùng” với đồng bào các dân tộc, giúp dân trồng lúa nước, đưa đồng bào vào làm việc ở các nông trường quân đội… là những hình ảnh bình dị, thân thương, nhưng vô cùng cao đẹp về tình quân dân cá nước.
         Trong bối cảnh và xu thế phát triển của thế giới hiện nay, mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước trên thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp và khó lường. Tiêu biểu đó là tình hình biển Đông đang căng thẳng, cả thế giới đang lên án trước những hành động leo thang của Trung Quốc tại biển Đông. Ngày 01 tháng 5 năm 2014, Trung Quốc bất ngờ di chuyển giàn khoan HD-981 từ đảo Tri Tôn (thuộc Hoàng Sa) tiến sâu vào thềm lục địa Việt Nam vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam; vi phạm Công ước Quốc tế về Luật Biển 1982; trực tiếp đe dọa hòa bình, ổn định, an toàn và tự do hàng hải trong khu vực. Trước sự xâm phạm trắng trợn, hung hăng của Trung Quốc, Việt Nam đã nhiều lần sử dụng các kênh ngoại giao giao thiệp với Trung Quốc yêu cầu Bắc Kinh rút giàn khoan và lực lượng ra khỏi vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam; gửi công hàm đến Liên Hợp Quốc, liên tục tổ chức họp báo quốc tế để thông tin và đưa ra các bằng chứng về hành động của Trung Quốc cũng như bằng chứng lịch sử chứng minh quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam. Các lãnh đạo cao cấp của Việt Nam, đặc biệt Thủ tưởng Nguyễn Tấn Dũng công khai thể hiện quan điểm nhất quán: kiên quyết phản đối Trung Quốc; tìm mọi biện pháp hòa bình để giải quyết căng thẳng; tôn trọng quan hệ Việt- Trung cũng như lợi ích lâu dài của 2 dân tộc.
          Trong những ngày đó, qua việc theo dõi những thông tin trên báo đài đã khiến triệu triệu trái tim Việt nhói đau, cùng hướng về nơi biển Đông dậy sóng. Lòng yêu nước trong mỗi người lại sục sôi. Thầy trò trường tôi – trường Tiểu học Thành Sơn cũng vậy. Chúng tôi đã cùng nhau nói về chủ quyền biển đảo, sự vẹn tròn thống nhất của Tổ quốc, chúng tôi đọc lại những lời Tuyên ngôn “Nam Quốc sơn hà” thời Lý, “Đại cáo bình Ngô” thời Lê, “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh, hát những bài ca về biển đảo, phê phán những hành động hò hét, đập phá gây mất an ninh của một số thành phần dân chúng bị kích động lợi dụng. Để rồi từ đó các em và cả giáo viên chúng tôi thấy được yêu nước như thế nào cho đúng, cho đẹp, phải yêu bằng “một trái tim nóng và một cái đầu lạnh”, yêu bằng ý chí sục sôi nhiệt huyết nhưng bằng cả lí trí tỉnh táo, sáng suốt, tránh bị kích động bởi các phần tử xấu. Thầy và trò trường tôi đã có nhiều hoạt động hướng về Biển đảo như tham gia tích cực cuộc thi tìm hiểu chủ quyền Biển đảo trên mạng Intemet, góp quỹ ủng hộ Trường Sa – Hoàng Sa…
        Là một người giáo viên, là một cán bộ quản lí tôi thấy mình cần thường xuyên nâng cao trình độ tự ý thức về việc tự tu dưỡng, tích cực, tự giác học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất, năng lực và hiệu quả các mặt công tác là một yêu cầu cơ bản; Phải rèn luyện ý chí phấn đấu bền bỉ, cầu tiến bộ, trọng danh dự cá nhân; Không bị “nhiễm” với những tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, văn hóa phẩm trong đời sống xã hội hiện nay. Đấu tranh kiên quyết với biểu hiện coi nhẹ truyền thống, phủ nhận quá khứ, gieo rắc tư tưởng, lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân; tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại, phát triển nó phù hợp, phù hợp với đặc điểm hoạt động quân sự và bản sắc riêng của dân tộc Việt Nam, “hòa nhập nhưng không hoà tan”. Và tôi hiểu trọng trách của mình lớn thế nào trong việc rèn luyện cho các em “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Nhất là hiện nay toàn ngành giáo dục chúng ta đang thực hiện Nghị quyết 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về đổi mới căn bản nền giáo dục Nam thì lại đặt lên vai những người lính mang quân hàm xanh chúng tôi  với một tinh thần và trách nhiệm lớn lao hơn đáp ứng  yêu cầu đổi mới của đất nước và  của sự nghiệp giáo dục nước nhà.
         Để làm được điều đó, để phát huy giá trị Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ và vun đắp giá trị truyền thống quý báu của dân tộc, những nhà giáo chúng ta hôm nay cần cần nâng cao năng lực giảng dạy, thổi hồn vào những bài giảng một cách sinh động nhất để truyền ngọn lửa nhiệt huyết cho các em, để cho thế hệ hôm nay thấy rõ mình hơn và tự ý thức được sứ mệnh, trách nhiệm lớn lao của tuổi trẻ là dấn thân, là cống hiến cho sự trường tồn và phát triển bền vững của dân tộc hôm nay và mai sau, cho đất nước Việt Nam hùng cường, lớn mạnh sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong ước./.

                                                                                          (Đặng Đình Vinh – PHT trường TH Thành sơn
                                                                                                                      Anh Sơn, Nghệ An)



                                                           


Tổng số điểm của bài viết là: 8 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tìm kiếm
Ban quản trị website
Đoàn Văn Thanh

Đoàn Văn Thanh

Trưởng Ban biên tập
  • Trường THCS Anh Sơn
    Trường THCS Anh Sơn
Trưng cầu ý kiến
Thống kê
Hôm nay : 24
Hôm qua : 59
Tháng 08 : 1.462
Tháng trước : 10.645
Năm 2022 : 43.777
Năm trước : 58.535
Tổng số : 214.484