Wednesday, 26/02/2020 - 19:35|
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ PHÒNG GIÁO DỤC ANH SƠN
Liên kết website
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Hồi ký đi B.

Thưa quý vị! Thưa các bạn! cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã lùi xa hơn 30 năm rồi. Song những dấu ấn chiến tranh vẫn còn khắc sâu trong tâm trí của mỗi chúng ta. Trong cuộc chiến tranh này, Ngành giáo dục Huyện ta đã đóng góp một phần không nhỏ. Có nhiều giáo viên là liệt sỹ, là thương binh là cán bộ đi B “Chia lửa” cùng đồng bào miền Nam ruột thịt. Đảng ta đã chuẩn bị lực lượng tiếp quản sau ngày giải phóng từ rất xa.
         Có hàng vạn cán bộ đi B, đầy đủ tất cả các cấp chính quyền và các ngành chuyên môn. Trong đó có 3 anh em chúng tôi là: Tôi, đồng chí Cao Xuân Sơn và đồng chí Bùi Đức Lựu là giáo viên của Huyện ta đi B ngày ấy. Nhân dịp này tôi xin kể lại một số chi tiết nhỏ trong quá trình chuẩn bị, hành quân và trực tiếp tham gia kháng chiến cùng đồng bào miền Nam mà chúng tôi đã trải qua.
        Nhận được quyết định đi B cuối tháng 8 năm 1969 ba anh em chúng tôi đã được ngành giáo dục và công đoàn ngành tổ chức liên hoan tiễn đưa. Trong buổi liên hoan đó đồng chí Lê Đăng Tớn – Trưởng phòng đã căn dặn chúng tôi: Dù hoàn cảnh khó khăn gian khổ đến mấy các đồng chí cũng không lùi bước, hãy tiến lên. Đồng chí Đệ Phó phòng kiêm thư ký công đoàn, đồng chí Nghĩa cán bộ tổ chức đã lần lượt bắt tay chúng tôi với ánh mắt thân thương trìu mến. Ngày sau chúng tôi lại về Ty giáo dục để dự liên hoan tiễn đưa do Ty tổ chức. Trong buổi liên hoan này, đồng chí Nguyễn Tài Đại Trưởng ty giáo dục đã căn dặn chúng tôi Dù hoàn cảnh nào các đồng chí cũng phải dương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, thà chết vì đạn đồng, chứ không chết vì “đạn bọc đường”. sau đó đại diện ban tổ chức Trung ương ghi nhận danh sách đi B và cho chúng tôi nghỉ một thời gian. Đầu năm 1970 chúng tôi có lệnh tập trung, đồng chí Trưởng ty giáo dục đã đưa xe Uoát tiễn đưa chúng tôi ra ga tàu về trường B của Bộ. Tại trường B chúng tôi được đào tạo rất bài bản, nâng tầm nhận thức toàn diện. Đồng chí Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên đã đến giảng bài và chụp ảnh lưu niệm với lớp học, sau đó là các đồng chí Thứ trưởng Võ Thuần Nho, Hà Huy Giáp, Lê Liêm, Lê Chưởng lên giảng bài, đồng chí Phan Huy Lê nhà sử học nức ta giảng về lịch sử Việt Nam. Các anh hùng, dũng sỹ miền Nam đến báo cáo thực tế và phổ biến những kinh nghiệm chiến tranh. Phòng quân sự Bộ giáo dục đến tập quân sự và tổ chức bắn đạn thật ở trường bắn Gia Lâm. Đầu năm 1971 chúng tôi được chuyển sang trường B của Ban thống nhất tại tỉnh Hòa Bình, ở đây chúng tôi tập mang gạch nặng trên 25 Kg và hành quân ngày, hành quân đêm, tập ném Lựu Đạn, tập đào công sự chiến đấu, tập bắn súng K54 thành thạo, tiêu chuẩn ăn rất cao để tăng cường sức khỏe cho anh em.
           Một buổi sáng 3 chiếc xe ca chở hơn 150 học viên chúng tôi đi, thế là đã bắt đầu đi rồi, mọi tư trang cá nhân kể cả thư từ, ảnh gia đình và bản thân, tài liệu học tập, … đều để lại có người đưa về nhà cho chúng tôi. Chúng tôi nhận quân trang, tăng, võng, ăng gô, bật lửa, bao tượng gạo, dao găm, súng CKC và thuốc men, bông băng, .v.v. Xe chở đến Bố Trạch – Quảng Bình, thì lên ca nô đi suốt một đêm đến xã Cư Nậm và đặt chân lên đất tỉnh Khăm Muộn của Lào. Đồng chí Sơn được chỉ định làm tiểu đội trưởng, đồng chí Lựu làm tiểu đội phó, hành quân qua tỉnh Khăm Muộn mất 1 tháng. Vì mang nặng, leo đèo lội suối nên nhiều đồng chí đã ốm đau, những thứ tuy quý giá nhưng hơi nặng như thịt hộp, cá hộp anh em đều đành phải bỏ lại dọc đường, vì không mang nổi. Sang tháng thứ 2 đi qua tỉnh XaVaNaKhet cảu Lào, trời mưa tầm tã, đồng chí Sơn và đồng chí Lựu bị sốt rét đành nằm lại binh trạm chờ khỏi bênh mới đi. Kể từ đó tôi hoàn toàn mất liên lạc với đồng chí Sơn và đồng chí Lựu. Vì đoàn hành quân đi cách quãng, xa nhau chừng 1 Km, theo từng nhóm một, lúc này tôi đi với đồng chí Trần Doãn Cư giáo viên Đô Lương cùng đi B với tôi. Trời mưa quá to, tôi và anh Cư đi lạc đường. Chúng tôi lo quá, làm thế nào đây? hai anh em loay hoay mãi mà không biết đi hướng nào, hai anh em bàn với nhau ta bắn 2 phát CKC chỉ thiên để thăm dò đồng đội ở đâu. Quả nhiên sau độ 5 phút thì nghe 2 tiếng súng đáp lại, chúng tôi quay lại theo hướng đó nên không bị lạc giữa rừng Trung Lào. Nếu hai anh em lạc ở đó thì không biết hậu quả sẽ ra sao …
          Đến cuối tháng 3 thì chúng tôi đến được khu uye Khu V, cán bộ khu ủy ra đón chúng tôi ngay giữa đường và phân công tôi về Quảng Nam, đồng chí Cư ở lại khu ủy. Lúc chia tay, tôi và anh Cư ôm nhau mà ứa nước mắt vì buồn phải chia li. Từ đó tôi lại mất liên lạc với đồng chí Cư. Một đồng chí giao liên đưa một mình tôi đi, đồng chí ấy nói “Anh vinh dự được đi vùng 6 Đ rồi” tôi không hiểu “vùng 6 Đ” là vùng gì cả, đồng chí đó giải thích, 6 Đ là: Đói, Đau, Đỉa, Địch, Đò, Đèo ám chỉ vùng gian khổ ác liệt, Quả thật tôi và giao liên đi 9 ngày đường, qua nhiều xã, thôn mà không thấy một bóng người dân nào. Xã thôn vắng tanh, vắng ngắt, cỏ mọc um tùm, sên vắt đầy đường búng trên lá tanh tách, thỉnh thoảng lại gặp một đàn heo rừng bất chợt chạy nhốn nháo. Anh giao liên nói với tôi: Dân đây bị xúc về “Khu dồn” cả rồi, đi nhẹ nhàng và chú ý kẻo địch phục kích đó nghe. Chiều ngày thứ 10, anh giao liên đưa tôi đến UBND tỉnh Quảng Nam, UBND tỉnh đóng trong hẻm núi, bên ngoài là rừng cây bị chất độc hóa học làm cháy trụi lá, có một số cây chất hóa học làm lá đã vàng úa sắp chết. Đồng chí cChur tịch tỉnh đã già, gầy yếu, ra bắt tay tôi rất vui mừng, ân cần hỏi thăm sức khỏe và quê quán của tôi rồi đồng chí nói: Các đồng chí vào được đây rồi là quý lắm. Đồng chí căn dặn tôi: Ở đây rất gần địch, hàng ngày ra vào cơ quan nhớ đừng để lộ dấu vết, nếu kẻ địch phát hiện được chúng sẽ đổ quân bao vây chúng ta đấy. Đêm đó nằm trên võng trong nhà tăng của ủy ban tỉnh mà tôi không sao ngủ được vì suốt đêm nghe tiếng  pháo của địch đề ba, ùng rồi một tiếng hú dài, sau đó là một tiếng nổ đoàng xé toang màn đêm yên tĩnh. Anh bạn quê ở Quảng Nam nói với tôi: Khi nào nghe tiếng đạn pháo hú là viên đạn đã bay qua chỗ chúng ta, còn khi nghe tiếng đạn kêu xèn xẹt thì lăn xuống hầm nghe, đạn nổ gần ta đó. Đêm sau quen rồi tôi mới ngủ được. Hàng ngày ngoài công việc giảng dạy cho cán bộ cơ sở đưa từ vùng địch lên. Chúng tôi phải phân công nhau đi về cửa khẩu Phú Hương để mua gạo và mắm muối về ăn, đi và về phải qua đồn địch ở núi Hòn Chiêng nên phải bẻ lá ngụy trang người thật khéo léo và phải đi qua từ từ từng người một, nếu lộ địch nã cối cá nhân xuống thì chỉ có chết. Có khi địch vây chặt cửa khẩu, cơ quan phải ăn cháo và rau rừng cả tuần, sau đó lên dân tộc để đổi sắn về ăn. Máy bay trực thăng của địch có loại như cái gáo – gọi là “tàu gáo”, có loại như cái rõ lợn – gọi là “tàu rọ”. Chúng đã khả nghi ở đâu thì ghé đít có chong chóng quạt mạnh, cây nghiêng ngả. Nếu lòi mái nhà, hoặc miệng hầm thì lập tức đổ quân xuống càn quét ngay. Ấn tượng nhất là có đêm cả cơ quan phải chạy càn, tôi đã phải dìu anh Phan Văn Trường, giáo viên đi B cùng tôi, quê ở Đức Dũng - Đức Thọ – Hà Tĩnh, anh bị đau bụng đi ngoài, da tái nhợt thở hổn hển chân run rẩy mà phải chạy càn. Anh nói với tôi: Anh dìu tôi với nha! Tôi nói với anh: Anh cứ yên tâm vịn vai tôi mà đi từ từ, vì đường dài tôi không thể cõng được, tôi còn sống thì anh sống, anh đừng sợ. Sau khoảng xa là tiếng xe tăng địch xình xịch, tiếng pháo tự hành nổ toang toác, đoàn người của cơ quan cứ lặng lẽ raoe bước lánh càn. May sao, bọn địch càn chệch hướng chúng tôi, thế là cả cơ quan và cả hai anh em tôi thoát khỏi trận càn đó.
         Chiến dịch mở ra, cán bộ và nhân viên cơ quan đều đi phía trước để phục vụ chiến dịch, tải thương, tiếp đạn, thu dọn chiến trường, … Anh Phan Bưu, giáo viên đi B quê ở Yên Thành đã đi thu dọn chiến trường ở quận Quế Sơn – Quảng Nam và đã anh dũng hi sinh vào đêm 19/08/1972 đến nay vẫn chưa tìm thấy mộ của anh.
Thầy:
  Đặng Đình Cương
Thầy:
    Cao Xuân Sơn
Thầy:
     Bùi Đức Lựu
 
Thầy:
    Trần Phong Phú
  Thầy:
Nguyễn HồngThuyết
         Ngày 30/04/1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, may mắn cả anh em chúng tôi vẫn sống sót, gặp lại nhau ở thành phố Đà Nẵng và cho nhau biết: đồng chí Cao Xuân Sơn – Trưởng phòng giáo vụ trường trung cấp nông nghiệp khu V., đồng chí Bùi Đức Lựu Phó hiệu trưởng trường trung học Nguyễn Trãi thành phố Đà Nẵng, và tôi Trưởng phòng giáo dục huyện Quế Sơn – Quảng Nam. điều vinh dự nhất là ba anh em chúng tôi là những người cùng với cán bộ miền Nam chốt giữ chính quyền ngay từ ngày giải phóng, góp phần làm cho kẻ địch không có cơ hội giành lại chính quyền, bởi vì Trung ương Đảng đã có sự chuẩn bị từ rất xa, đến ngày giải phóng là lắp ráp vào đầy đủ cán bộ các cấp chính quyền và các ngành từ trung ương đến địa phương. Nên mọi hoạt động xã hội sau giải phóng diễn ra rất bình thường, làm cho kẻ địch không ngờ tới. Quả thật câu nói của người xưa: “Nuôi quân ba năm – Dùng quân một giờ” nay vẫn còn nguyên giá trị.
                                                                        Ngày 01/07/2008
                                                            Thầy: ĐẶNG ĐÌNH CƯƠNG
                          Nguyên là giáo viên Anh Sơn đi B – Trưởng PGD Quế Sơn, Quảng Nam.




Tập tin đính kèm
Nguồn: anhson.edu.vn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tìm kiếm
Ban quản trị website
Đoàn Văn Thanh

Đoàn Văn Thanh

Trưởng Ban biên tập
  • Trường THCS Anh Sơn
    Trường THCS Anh Sơn
Trưng cầu ý kiến
Thống kê
Hôm nay : 104
Hôm qua : 409
Tháng 02 : 6.076
Tháng trước : 7.011
Năm 2020 : 13.087
Năm trước : 38.794
Tổng số : 51.881