Wednesday, 26/02/2020 - 19:48|
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ PHÒNG GIÁO DỤC ANH SƠN
Liên kết website
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Những tháng năm thương nhớ

Vào một buổi sáng đầu mùa hè năm 1976, chiếc xe U-oát chở anh Lê Văn Dũng phó chủ tịch UBND huyện và chúng tôi chạy vào xóm Già Ổi xã Hội sơn để khảo sát xây dựng trường cấp ba VHVL. Đường đất gập ghềnh quanh co theo sườn đồi khiến cho chiếc xe U-oát già nua xóc mạnh.
      Vào một buổi sáng đầu mùa hè năm 1976, chiếc xe U-oát chở anh Lê Văn Dũng phó chủ tịch UBND huyện  và chúng tôi chạy vào xóm Già Ổi xã Hội sơn để khảo sát xây dựng trường cấp ba VHVL. Đường đất gập ghềnh quanh co theo sườn đồi khiến cho chiếc xe U-oát già nua xóc mạnh. Từ UBND huyện vào xóm mới Già Ổi theo đường chim bay chỉ sáu cây số nhưng xe phải chạy mất hơn 30 phút. Dừng lại trên một bãi đất hoang đầy cỏ may và cây mua, anh Dũng chỉ tay và nói: Đây là địa điểm trường, vùng đất này tụ hội đủ các điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng, Theo thuật phong thuỷ vị trí trường đặt ở đây là được.
      Nghe anh nói và nhìn theo tay anh chỉ, tôi chỉ thấy bạt ngàn màu xanh của rừng, bạt ngàn một màu hoa tím đến nao lòng. Xa xa một làn khói mỏng bay lên từ nóc nhà sàn của bà con dân tộc Thanh. Tiếng suối chảy róc rách, tiếng mõ trâu lóc cóc. Tiếng con chim đi ăn đêm về muộn. Tiếng tắc kè kêu lên bảy tiếng trong một vách đá. Tiếng chày giã gạo buổi ban mai của bà con bản Vĩnh Kim thong thả điểm từng chày càng tạo nên một cảm giác hoang sơ vắng lặng.
     Sau lần đi khảo sát, vị trí nhà trường xem như đã được quyết định chính thức. Hội nghị bàn về xây dựng trường cấp ba VHVL diễn ra sôi nổi hào hứng của các thành viên dự họp. Tâm lý muốn có thêm một trường cấp ba tạo nên sự hứng khởi bừng lên trên gương mặt mọi người. Sau cuộc họp, tổ chức bộ máy nhà trường được thành lập.
      Tôi được bổ nhiệm làm hiệu trưởng nhà trường. Anh Đặng Đình Tâm huyện uỷ viên chủ nhiệm hợp tác xã Phúc Sơn được điều về làm hiệu phó phụ trách lao động kiêm bí thư chi bộ. Thầy Đặng Đình Kỳ phụ trách xây dựng cơ sở vật chất. Anh Trần Văn Thông cán bộ  phòng lao động phụ trách công tác hành chính. Một số giáo viên được điều về trường trong những ngày đầu tháng sáu: Cô Đặng Thị nhã, cô Nguyễn Thị Kiệm, cô Trần Thị Liễu, cô Lê Thị Kim Đức , Thầy Hoàng Xuân Cúc, Thầy Lê Văn Thế.
      Thực hiện kế hoạch đã bàn, các xã khẩn trương xây dựng các phòng học, nhà hội trường, nhà nội trú cho thầy và trò. Bãi đất hoang tím một màu hoa mua ngày ấy giờ đã trở thành một công trường xây dựng. Cái cảm giác hoang sơ vắng lặng từ buổi đầu đi tìm địa điểm cho trường, giờ đã nhường lại cho không khí rộn ràng náo nhiệt. Cũng những tiếng con tắc kè trong vách đá, tiếng con chim bắt cô trói cột, tiếng nước chảy róc rách của con suối đầu bản, tiếng mõ lóc cóc của đàn trâu thong thả gặm cỏ bên sườn đồi, tiếng chày giã gạo của bà con dân bản, làn khói trắng bay lên từ các nóc nhà sàn giờ đây không còn tạo nên cảm giác vắng lặng hoang sơ như buổi ban đầu mà tất cả âm thanh và cảnh vật đã hoà vào không khí xây dựng tạo nên một bức tranh màu đẹp mắt.
      Chuẩn bị bước vào năm học mới, năm học mang tính lịch sử khởi đầu cho một trường cấp ba theo mô hình VHVL đầu tiên của huyện ra đời, thì niềm vui lại được nhân lên khi chúng tôi được đón tiếp một số giáo viên trẻ vừa tốt nghiệp đaị học sư phạm về trường giảng dạy. Chính vì thế chúng tôi vui biết chừng nào khi ôm vào lòng thầy giáo trẻ Lê Văn Quyền tốt nghiệp khoa toán, Thầy Nguyễn Xuân Chí tốt nghiệp khoa hoá, thầy Nguyễn Cảnh Tân tốt nghiệp khoa địa, thầy Nguyễn Văn Thụ khoa văn, nắm chặt tay cô giáo Cao Thị Lam tốt nghiệp khoa sử đều về trường đầu năm học. Quên sao được những tháng năm thương nhớ ấy: Buổi sáng thầy say sưa giảng bài, trò mệt mài học tập. Buổi chiều thầy trò đều lên đồi trồng sắn.

Bạt ngàn màu xanh của sắn. Hàng chục héc ta sắn mà nhà trường làm ra đã góp phần chống đói trong những ngày còn chia nhau từng nắm gạo. Sắn của nhà trường theo các ngã đường trong huyện được chuyển về từng nhà các em trên những chiếc xe bò thô sơ ngày ấy. Quên sao được những tháng năm thương nhớ ấy: Buổi sáng trước khi lên lớp thầy trò đều lót dạ bằng những khoanh sắn luộc nóng hổi, thơm phức. Gian khổ nhưng nặng tình nghĩa thầy trò, ấm áp tình đồng nghiệp, nghiêm túc trong chuyên môn, sáng trong tình bạn hữu.
       Tôi còn nhớ một ngày cuối năm , thầy Nguyễn Tài Đại lúc bấy giờ là trưởng ty giáo dục về thăm trường và nhận xét một cách khách quan : “Trường mới xây dựng chưa đầy một năm mà quy mô bề thế như một trường chuyên nghiệp”.  Chính lời động viên quý báu  của thầy trưởng ty đã giúp chúng tôi phấn khởi say sưa hơn trong công tác của mình.
        Ba mươi năm đối với một trường THPT chưa phải là dài, những mỗi trường lại có tính đặc thù riêng của nó. Hôm nay, ta ngồi họp trong hội trường có đủ tiện nghi sinh hoạt, các em học sinh được học trong những dãy nhà tầng khang trang hiện đại là một niềm hạnh phúc. Nhưng để có được hạnh phúc hôm nay ta quên sao được những tháng năm thương nhớ ấy. Ngày ấy ty giáo dục cử thầy Cát chuyên viên theo dõi hệ thống trường vừa học vừa làm của ty giáo dục ,quán triệt tinh thần cho nhà trường, cho lãnh đạo huyện nhà “ Phải giữ nhà trường theo mô hình vừa học vừa làm, không được thay đổi theo mô hình cấp ba phổ thông”.Nhưng cũng chính từ những ngày đầu xây dựng, lãnh đạo huyện nhà, lãnh đạo nhà trường, đội ngũ thầy cô giáo cũng như nguyện vọng của phụ huynh, học sinh đều thiết tha phấn đấu xây dựng một trường cấp ba phổ thông trên địa bàn huyện. Nguyện vọng chính đáng đó, năm học cuối cùng của khoá học đã trở thành hiện thực.
        Ba mươi năm phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, trường cấp ba vừa học vừa làm của những năm đầu tiên xây dựng giờ đã trưởng thành đáng được tự hào, đáng được khâm phục. Trường THPT Anh Sơn 3 thực sự là trung tâm tri thức ,trung tâm văn hoá của vùng đất miền Tây Anh Sơn trong thời kỳ đổi mới. Chúng ta vui và tự hào sự lớn mạnh của nhà trường nhưng xin đừng quên những tháng năm thương nhớ ấy./.
                                                                                                   Vĩnh Sơn, tháng 7 năm 2008.
                                                                                                    Thầy: NGUYỄN VĂN ANH
                                                                                   Nguyên hiệu trưởng trường cấp 3 VHVL Anh Sơn.
                                                                                    Nguyên trưởng phòng giáo dục huyện Anh Sơn.

CHÙM THƠ VỀ NHÀ GIÁO

 

 

THẦY GIÁO ĐẤT HỒNG LAM

 
  Thầy giáo đất Hồng Lam

Tâm hồn trong như ngọc

Trọn một đời dạy học

Chắp cánh ngàn ước mơ.

Về thăm lại trường xưa

Cây phượng già còn đó

Hoa phượng hồng rực đỏ

Sáng bừng tuổi ấu thơ.

Thăm thầy giáo năm xưa

Tóc thầy giờ bạc trắng

Lưng thầy không còn thẳng

Dáng thầy đi nghiêng nghiêng.

Gặp lại lũ chúng con

Thầy cười hiền yêu thương

Chòm râu trắng như tiên

Thầy gọi đúng từng tên

Lục Hà, Xuân, Thi, Lương

Lòng chúng con rưng rưng

Nghẹn ngào trào nước mắt

Nắm tay thầy thật chặt

Như ngày xưa, ngày xưa...

Thầy giáo đất Hồng Lam

Tâm hồn trong như ngọc

Trọn một đời dạy học

Chắp cánh ngàn ước mơ.
 
  DÒNG SÔNG CUỘC ĐỜI  
  Cuộc đời như một dòng sông
Vẫn luôn luôn chảy nhưng không bến bờ
Yêu người, dạy học, làm thơ
Bốn mươi năm ấy, ngẩn ngơ tấc lòng
Bao nhiêu trò đã sang sông
Con thuyền đạo lý đẹp lòng người qua
Cuộc đời đẹp tựa bài ca
Nặng lòng thương nhớ thiết tha nghĩa tình
Ngẩn ngơ nhớ mái tóc xanh
Một thời nắng lửa nhiệt thành biết bao
Một thời biết mấy gian lao
Một thời cầm phấn dưới hào giao thông
Một thời đầu đội mũ rơm
Thầy trò chia sẻ nắm cơm muối vừng
Hầm chứ A, tránh đạn bom
Thây dạy, trò học sớm hôm một thời...
Quên sao cái thuở đôi mươi
Miệt mài chèo lái cho người qua sông
Đạn bom, mưa gió, bão bùng
Mái chèo đưa ... một tấm lòng  kiên trinh
Ngẩn ngơ nhớ mái tóc xanh...
Nhớ thương một thủơ nghĩa tình thủy chung
Cuộc đời tựa một dòng sông
Vẫn luôn luôn chảy nhưng không bến bờ
Yêu người, dạy học, làm thơ
Bốn mươi năm ấy, ngẩn ngơ tấc lòng./.
 
 
Nhớ lại một thời
(Kỉ niệm 45 năm thành lập trường Anh Sơn1)
 
  Có một thời học dưới tán cây xanh
Tiếng chim hót lẫn vào lời thầy giảng
Đời nàng Kiều nổi chìm qua năm tháng
Nghe bâng khuâng ... cho đến tận bây giờ!
Có một thời phòng học thật đơn sơ
Tranh nứa lợp lên thấy sao trời nhấp nháy
Hầm chữ A kề bên, bằng tre ngà vững chãi
Kẻng báo động máy bay, trai gái vào hầm cười vui thoải mái
Chuyện thường tình những năm tháng chiến tranh!
Có một thời trường qua nhiều địa danh
Long Sơn, Vĩnh Sơn, Thạch Sơn rồi trở về Thạch Sơn xưa cũ.
Thầy và trò đã qua nhiều nơi ở
Vẫn nặng lòng với nghiệp bút nghiên
Thấm đẫm tình đời với cấp 3 Anh Sơn
Có một thời nhiều cái tên không quên:
Học sinh mê chữ viết và giờ văn thầy Khoan
Nhớ dáng thư sinh mà giỏi toán hay thơ thầy Tuệ
Giờ địa lý say sưa thầy Mỹ
Và ngọt ngào giờ văn cô Nguyên.
Có một thời không thể nào quên:
Thầy hiệu trường đầu tiên Lê Đình Bá
Tóc bạc trằng và dáng đi thong thả
Nụ cười hiền luôn đọng ở trên môi
“Bây giờ thầy ở xa xôi”
Câu thơ xin được nói lời nghĩa ân
Mời thầy nhẹ bước về thăm
Mái trường xưa, giờ trường tầng khang trang
Câu thơ như một nén nhang
Bốn lăm năm vẫn không quên nhớ thầy
Có một thời...để có được hôm nay
Nhiều học sinh của trường đã làm nên sự nghiệp
Hãy nhớ và yêu thương như tình yêu thủa trước
Của một thời muối mặn gừng cay./.
 
 
MỘT THỜI KHÔNG THỂ NÀO QUÊN
(Kỉ niệm 45 năm thành lập trường Anh Sơn1)
 
  Thầy – trò giờ đã nghỉ hưu
Bốn lăm năm... quên làm sao một thời
Sông Lam bên lở bên bồi
Từng đưa bao chuyến bè xuôi làng Tuần
Chở đầy: gỗ, nứa, tre tranh
Dựng bao phòng học nặng tình bà con
Một thời vùng bãi cơi xanh
Râm ran lớp học, trong ngần lời ca
Mặc cho tiếng máy bay xa
Đứng trên bục giảng thiết tha lời thầy
Trong veo đôi mắt thơ ngây
Say sưa nghe giảng đắm say nghĩa tình
Một thời khói lửa chiến tranh
Chuyển dời địa điểm bao lần gian nan
Trường đi lưu luyến vấn vương
Trường về nặng nghĩa câu thương câu chào
Thầy trò được quý, được yêu
Sống trong dân thấm đẫm nhiều nhân văn
Bốn lăm năm một cung đàn
Vang lên trong trẻo trăm ngàn lời ca
Một thời giông gió phong ba
Thầy và trò đã vượt qua một thời
Tóc thầy giờ đã trắng ngời
Đầu trò điểm bạc chỗ rời chỗ thưa
Bốn lăm năm tựa giấc mơ
Bốn lăm năm... một bài thơ ngọt ngào
Gửi về trường cũ thân yêu
Mấy vần thơ, một lời chào yêu thương
Bạn bè trăm ngả ngàn phương
Nhớ về trường cũ quê hương... nhớ về./.
 
  VẤN VƯƠNG
(Tặng những đồng nghiệp đã nghỉ hưu)
 
  Sắp đến ngày Hiến chương
Nỗi niềm ta tơ vương
Tấm lòng luôn nhớ thương
Quảng đời chưa xa mấy
Nhìn hàng cây phượng vĩ
Lòng bồi hồi ngẩn ngơ
Thấy lộc bàng non tơ
Tâm hồn ta xao xuyến
Sao bồi hồi lưu luyến
Khi trống trường vang lên
Quên sao được bảng đen
Gắn đời ta vào đó
Xa trường càng thương nhớ
Lớp học trò mắt đen
Nhớ từng em, từng tên
Khắp xóm dưới làng trên
Một thời ta dạy học
Thầy trò thời bao cấp
Gian khổ khác gì nhau
Nhưng tình nặng nghĩa sâu
Thầy trò thương nhau mãi
Về hưu rồi nhớ lại
Dòng sông – con đò qua
Từng chở nặng phù sa
Đắp bồi bao đạo lý
...
Nhìn hàng cây phượng vĩ
Lòng bồi hồi ngẩn ngơ
Thầy lộc bàng non tơ
Tâm hồn thêm xao xuyến.../.
 
 
Ba mươi năm nhớ về ngày xưa ấy
(Kính tặng trường THPT Anh Sơn 3, nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập trường)
 
  Ba mươi năm nhớ về ngày xưa ấy
Từ vùng đất bạt ngàn hoa mua tím đến nao lòng
Nhứng triền đồi hoang sơ, bên dòng suối xanh trong
Dãy lèn đá bao quanh, mây bốn mùa phủ trắng
Ngôi trường dựng lên trong không gian vắng lặng
Nghe tắc kè thảng thốt những đêm mưa
Lớp học, hội trường lợp tranh nứa đơn sơ
Nhà nội trú học sinh bốn bên đều vách nứa.
Thầy và trò sáng lên lớp, chiều vào rừng lấy gỗ
Vừa học vừa xây đúng ý nghĩa tên trường.

Ba mươi năm nhớ về ngày xưa ấy
Những đồi sắn mênh mông uốn lượn giữa mây ngàn.
Chiến tranh vừa qua đi, cuộc sống còn nhiều gian nan
Bữa đói bữa no, chuyện thường tình như mây trời không khí.
Ba mươi năm nhớ về ngày xưa ấy
Sáng, nghe tiếng học bài, chiều câu hát mênh mang
Trên những sườn đồi bạt ngàn màu xanh
À ơi ...câu hát trong lành...
Ba mươi năm , lớp chị lớp anh
Khóa học đầu tiên đã trưởng thành khắp mọi miền tổ quốc
Ba mươi năm nhịp cầu thời gian như cung đàn thành thót.
Điệu lý, điệu xoan, ngọt lịm ân tình.
Ba mươi năm trường từng bước đi lên
Từ ngôi trường tranh ngày xưa giờ khang trang bề thế
Nhưng đừng quên, đừng quên, ba mươi năm ngày xưa ấy
Những phòng học đơn sơ nhỏ bé
Cho gió mang theo cái rét tràn về
Đêm đêm nghe thảng thốt tiếng tắc kè
Trong lèn đá bốn mùa mây phủ trắng
Có được đại dương mênh mông gió lộng
 Cũng bắt nguồn từ con suối dòng sông./.
 
     



Nguồn: anhson.edu.vn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tìm kiếm
Ban quản trị website
Đoàn Văn Thanh

Đoàn Văn Thanh

Trưởng Ban biên tập
  • Trường THCS Anh Sơn
    Trường THCS Anh Sơn
Trưng cầu ý kiến
Thống kê
Hôm nay : 108
Hôm qua : 409
Tháng 02 : 6.080
Tháng trước : 7.011
Năm 2020 : 13.091
Năm trước : 38.794
Tổng số : 51.885